Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2018

Học thuyết thủy hỏa – Hải Thượng Lãn Ông

Kết hợp giữa y lý của YHCT Đông phương cùng với các học thuyết triết học duy vật cổ như âm dương, ngũ hành, tạng tượng Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng lên học thuyết Thủy Hỏa. Ông cho rằng  “chữa bệnh nặng không biết đến thủy, hỏa; chữa bệnh nhẹ không biết đến khí huyết thì chẳng khác chi trèo cây tìm cá”.

I. KHÁI NIỆM VỀ THỦY HỎA

Mọi thứ trong trời đất dù là vô hình, hữu hình đều do sự vận động của trời đất mà có, hay nói cách khác là do có sự giao hợp lẫn nhau giữa khí trời và khí đất. Khí trời là dương, trong khí trời có cả ảnh hưởng của mặt trời. Đất là âm, trong khí đất có cả hơi nước ở đất. Khí trời, khí đất là khí vô hình; ánh lửa, hơi nước là khí hữu hình. Vì thế khi nói là khí âm dương là đã có sự trung hoà lẫn nhau giữa khí và chất. Khí là dương, chất là âm. Trong chất là âm có ánh lửa thuộc dương, hơi nước thuộc âm, trong khí dương có khí trời thuộc dương, khí đất thuộc âm. Đó là trong dương và âm đều có âm dương.

Nội kinh viết: Trời đất lấy 2 khí âm dương mà hoá sinh muôn vật. Con người lấy 2 khí âm dương mà nuôi sống mọi nơi.

Trời đất hoá dục muôn vật đều phải do sự xâm nhập của khí âm dương trong bốn mùa, rồi mới có thể phát triển được công năng: sinh trưởng, thu, tàng; để làm chung thuỷ cho muôn vật. Vì vậy trời đất lấy 2 khí âm dương mà hoá sinh muôn vật. Thuỷ hoả là chỗ bình hiện rõ ra của âm dương, mà âm dương là tính hình của thuỷ hoả. Như vậy thông qua thuỷ hoả mới hiểu được âm dương và cũng thông qua âm dương mới hiểu được sự tương quan và tác động lẫn nhau giữa thuỷ và hoả.

1.1. Thuỷ - hoả trong thiên nhiên.

Thuỷ là nước, chỗ nhiều nước nhất là biển; gốc của nước là mặn. Nước còn có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: nước thể lỏng, hơi, mây, mù, sương, mưa, tuyết, nước trong đất, nước ở trong động vật và thực vật. Nước ở trong không gian: sông, ngòi, suối...

Hoả là lửa, chỗ có nhiều lửa nhất là mặt trời. Lửa có nhiều dạng khác nhau, ở nhiều chỗ khác nhau: lửa mặt trời, lửa trong lò, trong lòng đất, trong sấm, chớp...

Thuỷ hoả luôn có hai mặt đối lập nhau về thể, tính, năng, dụng:

1.2. Sự giao hợp của thuỷ hoả:

Mọi sự sống trên trái đất đều do sự giao nhau của thuỷ và hoả. Mặt trời chiếu xuống, hơi nước bốc lên, thì mới có mây mưa- mới có mọi sinh vật trên trái đất.

Nội kinh viết: "Thanh dương là trời, trọc âm là đất, khí đất bốc lên thành mây, khí trời giáng xuống thành mưa, mưa làm ra bởi địa khí, mây làm ra bởi thiên khí". Đã nói rõ khí âm dương có "hô giao" rồi sau mới thành được cái biến hoá nay lên mưa xuống, để hoá sinh ra muôn vật.

Ta thấy mọi sự sống đều phải nhờ có mặt trời, có nước. Nếu chỉ có mặt trời mà không có nước thì tất cả sẽ bị đốt khô hoặc nếu chỉ có nước mà không có mặt trời thì tất cả tối tăm lạnh lẽo thì làm gì có sự sống được. Cho nên mọi sự sống xuất hiện đều do ở sự giao tiếp lẫn nhau giữa thuỷ và hoả. Thuỷ hoả giao nhau gọi là thuỷ hoả ký tế, ký tế thì sinh ra vật. Ngược lại thuỷ hoả không giao tiếp với nhau gọi là thuỷ hoả vị tế.

Ánh sáng mặt trời nuôi sống mọi vật gọi là ôn dưỡng, nước nuôi sống muôn vật gọi là nhu dưỡng. Ôn là ấm không phải là nóng, nhu là mát chứ không phải là ướt... làm có sự ôn, sự nhu là nhờ có thuỷ hoả giao nhau. Sự sống được bình thường là do ôn dưỡng và nhu dưỡng luôn luôn ở trong sự cân bằng tương đối.

Ví dụ: Thân nhiệt của con người 370C là nhờ sự cân bằng giữa hai quá trình ôn nhu.

hoc-thuyet-thuy-hoa-hai-thuong-lan-ong-1

(Thủy hỏa - Sưu tầm)

1.3. Thuỷ hoả trong con người:

Trong cơ thể con người, làm nền sự ôn dương gọi là dương khí, làm nền sự nhu dưỡng gọi là âm huyết. Dưỡng khí, âm huyết luôn luôn tồn tại và hỗ căn lẫn nhau, hai mà một, một mà hai. Đó là sự hiện hình của âm dương, cũng là thực thể của thuỷ hoả giao hợp với nhau trong nhân thể.

Thuỷ hoả tiên thiên là nguồn gốc sinh ra con người. Từ nam giới (dương) và nữ giới (âm), có giao hợp thì mới sinh được con cái. Âm dương có giao nhau thì thuỷ hoả mới tụ lại, bốn thứ ấy hợp lại là một thì gọi là giao khí, giao khí; là thứ khí có từ ban đầu gọi là nguyên khí, cũng gọi là bẩm khí tiên thiên... Từ khí có bẩm khí tiên thiên mới phát triển thành hình thể và thần khí của con người. Hình thể là âm từ thuỷ mà hoá thành, thần khí là dương mà sinh ra. Chính vì có âm dương; thuỷ hoả giao hoà lẫn nhau mà thể ôn của người ta là 370C. Mỗi khi âm, dương; thuỷ, hoả mất cân bằng thì thể ôn của người sẽ thay đổi và khi không còn thể ôn nữa là chết.

Thuỷ hoả trong bẩm khí tiên thiên gọi là chân thuỷ, chân hoả. Chân tức là khí chân nhất (chân là thực, nhất là 1, một là số bắt đầu và tạo nên mọi số), mọi sự hoá sinh của con người đều bắt nguồn từ khí chân nhất ấy, đó là nguồn gốc của mọi hoạt động sinh lý.

Chân thuỷ, chân hoả là thuỷ hoả vô hình, tuy là vô hình nhưng luôn luôn tồn tại trong cái hữu hình và thể hiện ra cái hữu hình. Cho nên chúng ta có thể biết được nó bằng cách theo dõi diễn biến của nó ở cái hữu hình.

Ví dụ:

  • Thuỷ suy không giữ được hoả- hoả bốc lên: có biểu hiện: có bốc nóng, nhức đầu, hoa mắt, đỏ mặt, nóng ngực, khó thở, tim đập nhanh…
  • Hoặc hoả suy-thiếu sự ôn dương, có biểu hiện: người lạnh, chân tay lạnh, ăn uống chậm tiêu, đầy bụng, ỉa lỏng, người mệt mỏi, sợ lạnh...

Người ta vì có chân thuỷ, chân hoả trong bẩm khí tiên thiên nên trong cơ thể mới luôn luôn có sự ôn dưỡng và nhu dưỡng. Nhưng để thực hiện việc ôn dưỡng và nhu dưỡng khí với huyết chứ không phải chân thuỷ, chân hoả. Chân thuỷ, chân hoả là cái gốc bẩm sinh từ tiên thiên mà do thận làm chủ. Khí huyết là cái ngọn; sinh ra từ hậu thiên do tâm can, tỳ phế là chủ về khí.

Có chân thuỷ, chân hoả mới có nguồn sinh ra khí huyết, có khí huyết thì chân thuỷ, chân hoả mới có công dụng hoá sinh và tồn tại. Cho nên khi nói đến khí là có sự liên hệ đến hoả đến dương; khi nói đến huyết là có sự liên hệ đến thuỷ đến âm. Hải Thượng Lãn Ông nói; "Toàn bộ nhan thể không ra ngoài hai chữ âm dương tức là thuỷ với hoả, mà hai chữ thuỷ hoả tức là khí huyết".

II. NỘI DUNG HỌC THUYẾT THỦY HỎA.

2.1. Nguồn gốc của học thuyết thuỷ hoả.

Học thuyết thuỷ hoả hay là học thuyết tâm thận do Hải Thượng Lãn Ông, danh y nước ta thế kỷ XVIII dựa trên định lý đã xây dựng nên. Trên cơ sở đó Ông đưa ra phương pháp trị liệu "Giáng tâm hoả, ích thận thuỷ" làm phương châm điều hoà 2 quá trình "thuỷ hoả", lập lại cân bằng âm dương, làm tiêu tán bệnh tật. Với phương châm đó Hải Thượng Lãn Ông đã sử dụng thành công 2 bài thuốc cổ phương: lục vị và bát vị để bổ thuỷ, bổ hoả; đồng thời ông là người đã sử dụng pháp biến phương tinh thông từ bài thuốc này để điều trị hơn 50 chứng và bệnh.

Ông nói: "Nhà y mà không hiểu rõ chân tướng của tiên thiên thái cực, không nghiên cứu tác dụng thần diệu của thuỷ hoả vô hình mà không thể trọng dụng được những bài thuốc hay như lục vị, bát vị làm thuốc còn thiếu sót hơn một nửa".

hoc-thuyet-thuy-hoa-hai-thuong-lan-ong-2

(Hải Thượng Lãn Ông - Sưu tầm)

2.2. Dịch lý trong học thuyết thuỷ hoả - Hải Thượng Lãn Ông:

Người xưa cho rằng: con người là một vũ trụ nhỏ, trước khi hành thành con người chỉ có khí âm dương của cha mẹ. Đó là giai đoạn tiên thiên, cũng như mô hình của vũ trụ là giai đoạn âm dương biến ra ngũ hành. Vì vậy học thuyết âm dương ngũ hành là học thuyết bao quát của hai giai đoạn của vũ trụ khi âm dương đã biến hoá ra ngũ hành thành thế giới có hình thì hành thuỷ được sinh ra trước tiên, cho nên ứng với số 1.

Vũ trụ đã có âm phải có dương, cho nên hành hoả sinh ra tiếp theo và ứng với số 2. Tiếp đó hành mộc ứng với số 3, hành kim ứng với số 4 và hành thổ ứng với số 5. Cũng như vũ trụ có 5 hành thì con người cũng có 5 tạng. Con người hình thành bắt đầu từ tạng thận tượng tạng với hành thuỷ, sau đó mới đến các tạng khác.

Con người cũng như vạn vật hữu hình theo dịch học là thuộc thế giới hậu thiên. Trong tượng hình "tiên thiên bát quái" thì trục nam bắc là hai quẻ ly khảm, tương ứng với con người là trục tâm thận. Theo ngũ hành thì tâm thuộc hoả, thận thuộc thuỷ. Hoả là quẻ ly, phương vị là phía nam; thuỷ là quẻ khảm, phương vị là phía bắc trong hậu thiên đồ. Vì vậy trục tâm thận của con người ứng với trục ly khảm của vũ trụ.

Dựa theo mô hình âm dương ngũ hành của định lý, Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng nên học thuyết thuỷ hoả hay học thuyết tâm thận.

Ông viết: "Tạng tâm thuộc quẻ ly, có một hào âm ở giữa hai hào dương" vả lại trong tâm chứa máu đỏ tức là chân âm. Còn tạng thận thuộc về quẻ khảm có một hào dương giữa hai hào âm, hơn nữa trong tạng thận có chứa tướng hoả là chân dương vậy. Tạng thận thuộc hành thuỷ tạng tâm ở trên; tạng tâm thuộc hành hoả thời tương giao với tạng thận. Như vậy theo quẻ "ký tế" tạng thận lại vận dụng ở trên mà tạng tâm lại truyền tống ở dưới".

Theo ông thuỷ hoả là gốc sinh ra con người, tác dụng của thần minh; thuỷ là nguồn của hoả, hoả là chủ của thuỷ. Thuỷ hoả phải cân bằng mà không nên chênh lệch, nên giao hợp mà không nên phân chia, tính hoả bốc lên, nên bắt cho đi xuống; tính thuỷ thấm xuống nên khiến cho đi lên; thuỷ lên hoả xuống gọi là giao nhau. Hoả tức là dương khí, thuỷ tức là âm tinh; Hai thứ ấy sánh đôi gọi là âm dương hoà bình cũng gọi là thiếu hoả sinh khí, thăng bằng.

Thì thuỷ hoả giúp nhau. Hoả tức là khí chân dương, khí chênh lệch thì dương khí bị kích thích mà thành ra hoả; thủy với nguyên khí không cùng sánh đôi được mà sinh ra hiện tượng bệnh tật.

Khi bàn về hoả tiên thiên và hậu tiên thiên, Hải Thượng Lãn Ông viết: "Loài người sinh ra ở hội dần, mà dần tức là hoả. Hoả là thế của dương khí, tạo hoá lấy dương khí làm chủ bản để sinh ra muôn vật, người ta lấy hoả làm cửa của sinh mệnh. Vì thế cần thiết nhất phải nuôi dưỡng chân hoả. Khí trời mở đầu ở hội tý, là gốc của hậu thiên. Hoả là gốc của sự sống, dương là công dụng của hoả. Cho nên có câu: "Trời không có hoả thì không sinh được muôn vật, người không có hoả thì không sinh sống được".

Trong cơ thể con người thứ hoả ở trên là quân hoả, thứ hoả ở dưới, là tướng hoả; Trong thiên nhiên hoả ở mặt trời là hoả phần trên, hoả ở trong lòng đất là hoả ở phần dưới. Có hoả thì mới có quang, có nhiệt, có động, có chưng bốc, có cũng như không có nước thì không có hoá sinh, không có sự sống. Người ta là một vũ trụ nhỏ nằm trong vũ trụ lớn, cho nên mỗi sự hoá sinh trong cơ thể cũng cần có hoả. Trong cơ thể người tâm hoả ở phần trên là

Quân hoả, chủ về thần minh; mệnh môn hoá là hoả của thận ở phần dưới, là tướng hoả và chủ về sinh thành.

Như chúng ta đã biết, nội kinh viết: "Tâm là quân chủ chi quan, thần minh xuất yên" Tâm là quân hoả, có tâm hoả tác động vào thận thuỷ thì mới có sáng suốt, minh mẫn được. Thần sinh ra ở tịnh khí của thận lên quy vào tâm hợp thành quẻ ly, là khi âm tinh tàng ở trong, dương tinh bọc ra ngoài thì hoả của tâm mới quang minh, sáng rực và soi được muôn vật. "Như vậy thần là tâm hoả được thận âm giúp đỡ vào, đó cũng là con đường "thuỷ tế hoả".

Đường Dung Xuyên nói: "Khi mà chân tinh hợp được bên trong thì chân quang phát sáng ra ngoài, thể là thần minh xuất ra vậy. Vì tâm thuộc hoả có ánh sáng, tuỳ thuộc thận có khả năng thu nhận và dẫn rộng ra khi sáng cùng soi nhau, vạn vật được sáng ra".

Não là bể tuỷ do thận sinh ra. Trong người ta, não được ví như mặt trăng; tâm được ví như mặt trời ánh sáng của mặt trời có chiếu vào thì mặt trăng mới sáng lên. Nói cách khác đi "thần" chính là tâm hoả đắc được thận thuỷ làm cho tâm xuất ra thần, tuỷ là cái dụng của tâm, tuỷ là tinh khí của thận tuỷ, nó đã được tâm hoả soi sáng, từ đó sinh ra tri giác.

Đường Dung Xuyên lại nói: "Con người sở dĩ có tri giác là do thần làm chủ, mà tâm là nơi tàng thần".

Có thần thì mới có minh và có minh thì mới có thần. Tâm thời quan chủ có thần minh thời 12 cơ quan đầu yên, nếu tân chủ không giống thời 12 cơ quan sẽ không yên. Nội kinh viết: "Tâm là một cơ quan quân chủ, nếu chủ minh thời dưới yên. Chủ không minh thời 12 cơ quan sẽ nguy".

Trong thần còn chia ra 2 phần: hồn và phách. Hồn là phần dương của tinh, phần linh của khí. Can chủ huyết mà trong đó có dương khí, dương khí đó tức là hồn. Nguồn gốc của hồn sinh ra ở hào dương trong quẻ khảm, nhưng lại ở can, "can tàng hồn", không ở thận mà ở can là âm ra dương và ở can là dương chìm trong âm. Ban ngày thì hồn đi ra mắt mới trông được, ban đêm hồn quay về can mà sinh ra ngủ. Hồn không yên thì hay chiêm bao, hồn không mạnh thì hay khiếp sợ.

Phách là thứ linh nhất của âm tinh. Can chủ huyết bồn là âm mà lại tàng hồn là dương, phế chủ khí là dương tàng phách là âm. Đó là trong âm có dương và trong dương có âm.

Chí là thần sinh ra ở tinh, chí sinh ra ở tâm cũng là cái lẽ tâm thận giao nhau. Trương Chí Thống nói: "Lối thoát của tâm gọi là chí, thần sinh ra tử tinh, chí sinh ra tử tâm: Đây cũng là trường hợp giao nhau và tế nhau".

Đường Dung Xuyên thì nói: "Chỉ lấy tác dụng của gốc ở tâm để tàng chữa trong thận, đây là dương tạng chứa trong tâm. Thận sinh tinh được xem là cáo gốc của ngũ tạng, tinh sinh ra tuỷ được xem như cái gốc của xương. Khi mà tinh và tuỷ được sung túc thì kỹ xảo xuất hiện, đó là cáo dụng của chí. Chữ chí có nghĩa là ghi nhớ, được ghi vào thận vì thận sinh tinh, tinh hoá thành tuỷ để rồi tàng trữ trong não. Sự vật qua vào mắt vào tai, vào tâm du nhập vào não. Tuỷ trong não giữ lại những sự vật đó. Khi ta muốn nghĩ đến vật nào đó thì tâm nghĩ ra trước rồi sự vật trong não sẽ xuất hiện ra. Bởi vì tâm hoả như ánh sáng mặt trời, như tấm gương... Âm thấp trong não tuỷ như phần ghi hình...".

Như vậy thủy hoả giao nhau tốt thì người đó có trí nhớ tốt, tâm thận phải giao nhau thì mới có sự sống và mệnh môn hoả phải thường được bổ sung nhờ tâm.

Khi nói về quan hệ của tạng tâm và tạng thận, Nội kinh viết: "Tâm hợp với mạch, vinh ra sắc nó, chủ ở thận".

Đường Dung Xuyên chú giải: "Cái lý của ngũ hành tương sinh, tương chế, chế thì sinh hoá. Tâm thuộc hoả tạng và chịu chế bởi thận thuỷ. Đây là thận đóng vai trò chủ đạo cho sự sinh hoá của tâm. Tâm thuộc ly hoả ()", hào âm ở trong quẻ ly hàm chứa thuỷ của quẻ khảm, tâm sở dĩ sinh huyết cũng nhờ thuỷ đến giao với hoả. Chỉ khi nào thuỷ có "tế" được hoả thì công dụng của hoả mới thành".

Thận là tạng thuộc thuỷ hoá, chủ và tiên thiên, vì thận thuộc thuỷ trong cơ mệnh môn hoả. Hiểu thận thuỷ ở đây: Thuỷ không phải là nước mà là chất. "Thuỷ là vạn vật chi nguyên", là cái mở đầu cho mọi cáo hình hiện, khí hoá chất phải thông qua thuỷ, nên thận thuộc thủy. Thuỷ sinh ở phía bắc dưới nên thận nam ở dưới nhất, nên tinh của thuỷ nằm ở thận. Trong thuỷ không có hoả thì thành bằng, nên trong thuỷ phải có hoả đó là hào dương trong quẻ khảm.

Thiên là chỉ ông tổ, bà tổ loài người, tinh là nguồn dòng của sinh tồn tử.

Khi sinh ra và lưu truyền nòi giống nên thận tàng tinh, nên nói chủ về tiên thiên và nơi tàng tinh.

Tiên thiên quyết định sự sống, khí của thận là nguyên khi, âm dương của thận gọi là chân âm, chân dương hoặc chân thủy chân hoả của nguyên dương (nguyên là cái ban đầu) chân tả chí có cái đó mà thôi không có cái nào thay thế được). Người ta sở dĩ không ai giống ai và có tính khác nhau là nhờ ở cái chân nhất này, cái tiên thiên này và đó là chân của nguyên...

Thuỷ là âm (tĩnh), tụ lại tạo thành hình chất. Hoả là dương (động), tạo thành khí. Con người có 2 phần, phần khí thuộc dương sinh ra dụng, hình chất thuộc âm sinh ra thể. Người ta sinh ra từ 4: Thuỷ, hoả, âm và dương của cha mẹ; thận là giữ nguồn gốc. Sự hoá sinh đều lấy gốc ở thận, thận là gốc của sinh mạng. Thận thuỷ không được tách rời hoả, đó là hào quang trong quẻ khảm.

Mệnh môn hoả là thận dương, ta hình dung mệnh môn hoả đối với sự sinh hoá của người giống như lửa trong lòng đất. Lòng lòng nước đối với sự hoá sinh. Hoả là vô hình, ta chỉ thấy hoả diệm sơn, càng đi vào lòng đất càng nóng; trời càng lạnh đất càng nóng. Hoả này được nuôi dưỡng bởi ánh sáng mặt trời.

Mệnh môn hoả là vô hình, khi ta thở khí trời là ta bổ sung cho nguồn hoả này. Hoả của mặt trời trung ương ở tâm, rồi đưa xuống thận. Vì vậy tâm thận phải giao nhau. Mệnh môn hoả chỉ đạo khe đọng, là nguồn động lực cho vận động nội tạng. Thiếu thứ hoả này thì các tạng ngưng đọng không hoạt động. Mệnh môn hoả phân bổ hoả đi đến các tạng qua đường kinh tam tiêu. Tam tiêu đưa hơi nóng thông qua các màng để chuyển dịch đi.

Tam tiêu là biệt xứ của nguyên khí, các tạng phủ hoạt động được là nhờ hoả khí của tam tiêu mà gốc là hoả của thận khí.

Nội kinh viết: "Tam tiêu là quyết độc chi quan, thuỷ đạo xuất ra từ đây. Gốc của tam tiêu là cơ quan có nhiệm vụ khai ngòi lạch nước, thuỷ đạo xuất ra từ đây. Gốc của tam tiêu là mệnh môn. Tam tiêu có bản khí là tướng hoả, có đường kinh thủ thiếu dương, đường kinh này biểu lý với quyết âm tâm bào lạc, như thế là tướng hoả có sự tương thông với quân hoả. Quân hoả và tướng hoả luôn luôn du hành trong tam tiêu, nhờ đó mà cho đường nước được lưu thông, khuyếch tán ra và không có sự ùn tắc. Người xưa nói: "Tam tiêu là quyết đoán chi quan, thuỷ đạo xuất yên"".

Tóm lại học thuyết thuỷ hoả được bắt nguồn từ vũ trụ quan theo dịch học của người xưa, trong đó quan niệm của con người là vũ trụ nhỏ. Trong con người quẻ khảm là tâm và thận tương ứng với trục nam bắc của trời đất thuộc ly (lửa) và tâm hoá, ích thận thuỷ để điều hoà 2 quá trình "thuỷ hoả".

III. ỨNG DỤNG CỦA HỌC THUYẾT THỦY HỎA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH

Tất cả bệnh tật của con người, chưa có lệnh nào là không có âm dương mất cân bằng; thuỷ hoả thiên lệch. Cho nên việc điều trị phải đạt được điều hoà âm dương thuỷ hoả đến mức thăng bằng mới thôi.

Hải Thượng Lãn Ông là người đã hoàn thiện học thuyết thuỷ hoả và ông đã sử dụng 2 bài thuốc "lục vị" và "bát vị" và biến phương của nó một cách tinh thông để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng âm dương thuỷ hoả, nguyên nhân của các chứng bệnh.

Theo Hải Thượng Lãn Ông: "Chữa bệnh nặng không biết đến thuỷ hoả chữa bệnh nhẹ mà không biết đến khí huyết thì cũng như trèo cây tìm cá".

Âm dương thuỷ hoả là những khái niệm vô hình nhưng rất trọng yếu của học thuyết thuỷ hoả nói riêng và lý luận của y học cổ truyền nói chung. Dựa theo lý thuyết của dịch học Hải Thượng Lãn Ông đã chú ý đặc biệt vận dụng nó vào trong điều trị. Theo ông: "Tính của hoả hơi bốc lên, thời phải bắt cho nó đi xuống, tính thuỷ thấm xuống nên khiến cho đi lên, thuỷ lên hoả xuống gọi là giao nhau tức thuỷ hoả ký tế (quẻ ký tế). Hoả ấy tức là dương khí, thuỷ tức là âm tinh" hai bên hỗ căn thời gọi là âm dương hoà bình. Người chân âm thịnh thì phải bổ dương hưng khí âm phải theo khí dương mà lên, nay thời chỉ bổ âm thì sẽ ảnh hưởng đến tỳ vị, lại tuyệt mất nguồn sinh hoá của hậu thiên, như vậy thì bổ âm phải dùng thời thêm vào vị bổ dương".

Thông thường để bổ âm, củng cố chân thuỷ khuyên nên dùng lục vị. Còn để bổ nguyên khí, củng cố chân hoả của thận (nhất là những người hoả lực yếu hoặc thuỷ không thăng, hoả không giáng) thì dùng bát vị. Với những người mà bệnh âm dương đều hư yếu thì nên dùng bài "thập bổ hoàn" để không thiên lệch. Theo Hải Thượng Lãn Ông "người làm thuốc chỉ biết chăm chú về khí huyết, lấp chỗ trống ở chỗ hao, loanh quanh bào chí vật tứ quân; tuyệt nhiên không biết thuỷ hoả ở chỗ nào, sợ thục địa là nê trệ, nhục quế nóng và phụ tử mạnh mà không dám dùng nhiều thì đó chỉ là thầy thuốc tầm thường".

IV. KẾT LUẬN HỌC THUYẾT THỦY HỎA

Học thuyết âm dương ngũ hành là học thuyết bao quát của hai giai đoạn của vũ trụ khi âm dương đã biến hoá ra ngũ hành thành thế giới có hình thì hành thuỷ được sinh ra trước tiên. Vũ trụ đã có âm phải có dương, cho nên hành hoả sinh ra tiếp theo và sau đó là 3 hành còn lại. Cũng như vũ trụ có 5 hành thì con người cũng có 5 tạng. Con người hình thành bắt đầu từ tạng thận tượng tạng với hành thuỷ, sau đó mới đến các tạng khác.

Dựa theo mô hình âm dương ngũ hành của định lý, Hải Thượng Lãn Ông đã xây dựng nên học thuyết thuỷ hoả hay học thuyết tâm thận. Học thuyết Thủy hỏa của Ông đã đặc biệt chú ý nó vào trong điều trị và chữa bệnh.

Học thuyết Thủy hỏa của Hải Thượng Lãn Ông không những vừa mang tính sáng tạo, tính thực tiễn mà còn mang tính khoa học của thời đại.

Phan Tâm Đường - Sưu tầm và chọn lọc

Đọc nguyên bài viết tại : Học thuyết thủy hỏa – Hải Thượng Lãn Ông

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Học thuyết thiên nhân hợp nhất

Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn tác động qua lại vừa mâu thuẫn và vừa thống nhất với con người. Con người qua sự thích nghi, hòa hợp, chế ngự và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội để sinh tồn và phát triển. Học thuyết Thiên Nhân Hợp nhất là quan niệm con người là một khối thống nhất với tự nhiên và xã hội. Trong y học cổ truyền, học thuyết này giúp tìm ra nguyên nhân gây bệnh và phương pháp chữa bệnh toàn diện.

I. ĐỊNH NGHĨA HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

Học thuyết Thiên Nhân Hợp Nhất còn gọi là Quan Niệm Chỉnh Thể. Trong y học cổ truyền từ xưa, người ta đã quan niệm: Cơ thể con người là 1 khối thống nhất giữa con người với khí hậu và hoàn cảnh xã hội, phong tục địa phương, có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Trong Y Học, học thuyết này được dùng làm chỉ đạo các phương pháp phòng bệnh, gìn giữ sức khỏe, tìm ra nguyên nhân bệnh và đề ra các phương pháp phòng chữa bệnh toàn diện.

hoc-thuyet-thien-nhan-hop-nhat

(Thiên nhân hợp nhất - Sưu tầm)

II. QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ HOÀN CẢNH TỰ NHIÊN

Con người là một sinh vật trong vũ trụ “Nhân thân tiểu thiên địa” (con người như một vũ trụ thu nhỏ) do đó, chịu mọi ảnh hưởng và chi phối của vũ trụ.

2.1. Hoàn cảnh tự nhiên tác động tới con người.

2.1.1. Khí hậu thời tiết

Trong một năm có 4 mùa : xuân, hạ, thu, đông và có sáu khí (Lục khí) : Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nắng), Thấp (ẩm) (ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nóng), sáu thứ khí này đi theo 4 mùa, tác động đến sức khỏe con người. Khi sức khỏe yếu (chính khí hư), chúng sẽ trở thành những tác nhân gây bệnh bên ngoài gọi là tà khí…

Căn cứ vào chu kỳ nhất định của thời gian, áp dụng phương pháp thống kê, người ta đã xác định được những mùa nào hay có bệnh gì, nhất là bệnh truyền nhiễm.

Thí dụ : Bệnh Bại liệt thường gặp vào mùa xuân, và cuối hè, sốt xuất huyết hay gặp vào tháng 7, 8... Nguy cơ chết vì đau tim cao nhất về tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc...

Việc quy hoạch được thời gian tính của bệnh tật, giúp đưa đến những biện pháp phòng ngừa, phòng chống dịch một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy : Dược liệu thấm nhập vào cơ thể con người cũng theo một chu kỳ riêng. Năm 1959 Halberg đã thí nghiệm cho chích Ouabain (1 hoạt chất kích thích Tim) cho chuột nhắt, cho thấy, tỷ lệ chết ở các lô tiêm trong khoảng 8-12h rất cao, trái lại, tỷ lệ chết ở lô chích lúc 24h lại rất thấp... Hiểu rõ được thời gian tính của Dược liệu, sẽ giúp đưa Dược liệu vào cơ thể 1 cách chính xác hiệu quả ngay cả khi dùng liều nhỏ nhất.

2.1.2. Hoàn cảnh địa lý, phong tục tập quán.

Miền đồng bằng, miền rừng núi, miền Nam, miền Bắc, tập quán sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng…luôn luôn gây nên những bệnh địa phương và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Miền núi cao, do thiếu lượng Iốt từ biển mang vào, dễ phát sinh bướu cổ. Cuộc sống vội vàng, căng thẳng của người dân thành thị dễ đưa đến các bệnh loét bao tử, loét tá tràng. Khẩu phần dư thừa mỡ đưa đến các chứng xơ mỡ động mạch, suy Tim vành...

Miền rừng núi, đầm lầy, tạo điều kiện cho muỗi sống, dễ gây ra bệnh sốt rét...

2.2. Hoàn cảnh xã hội tác động tới con người

Điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội cũng tác động đến tư tưởng, tình cảm đạo đức của con người.

Ví dụ như:

  • Tại những nước ngoài, người dân có trình độ cao, rất ít khi gặp các chứng bệnh hay lây, thậm chí nhiều nước, bệnh lao phổi, cùi hủi... hầu như không còn có tên trong sách thuốc của họ nữa.
  • Tại những nước điều kiện kinh tế và văn hóa quá yếu kém, người ta thấy tỷ lệ các bệnh suy dinh dưỡng, bệnh về đường ruột rất cao.
  • Trong một xã hội còn giai cấp bóc lột hoặc trong xã hội hết giai cấp bóc lột những tàn dư tư tưởng văn hoá của xã hội cũ hãy còn tồn tại, gây nên  những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người. Điều kiện kinh tế còn thấp kém, mức sống con người chưa cao là yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ. Tập quán sinh hoạt như. Văn hoá không lành mạnh, những tập tục, những tư tưởng lạc hậu luôn tác động đến tư duy con người…Tất cả những yếu tố tiêu cực trê sẽ gây ra những tác nhân không tốt về tâm lý xã hội là điều kiện gây ra các bệnh nội thương mà YHCT thường nói tới.

2.3. Sự thích ứng của con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội

Các yếu tố bên trong cùng yếu tố tự nhiên và điều kiện xã hội luôn tác động tới con người. Chúng gồm những yếu tố tích cực, cần thiết cho sự sống của con người, nhưng ngược lại còn gồm cả những yếu tố góp phần gây ra những sự xáo trộn ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Vì thế, con người cần phải thích ứng, thích ứng với mọi hoàn cảnh, chế ngự và cải tạo thiên nhiên, xã hội... để sinh tồn và phát triển.

Muốn vậy, cần phải có sức khỏe, có sự hiểu biết để thích ứng với hoàn cảnh dưới nhiều hình thức phong phú : từ cách nghĩ, cách làm, lối sống đều phải hòa nhịp với tự nhiên, thời đại, có như thế mới sinh tồn và phát triển được.

III. ỨNG DỤNG VÀO Y HỌC

3.1. Trong chẩn đoán

Phải biết kết hợp nhiều mặt : Yếu tố bên ngoài (Lục khí : Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa) và yếu tố bên trong (vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ, thất tình) nắm được thời điểm gây bệnh (theo mùa, theo Ngũ vận Lục khí...), hiểu được hoàn cảnh (giàu nghèo, địa dư, phong tục...).

Tuy nhiên, chủ yếu phải nhận định rằng : Bệnh tật chỉ xảy ra do sự thay đổi nội tạng, tức là giảm sút sự đề kháng (chính khí hư) làm cơ thể không thể thích ứng được với ngoại cảnh, gây bệnh (tà khí thịnh).  Chính khí hư là vai trò nội nhân, quyết định sự phát sinh ra bệnh.

3.2. Trong điều trị

Người thầy thuốc Y học cổ truyền dân tộc, trong chữa bệnh, một mặt cần giải quyết nguyên nhân gây bệnh, (đuổi, trục tà khí ra), mặt khác, phải chú trọng đến việc nâng cao sức chống đỡ của cơ thể (phù chính khí). Ngoài ra, còn phải chú ý đến hoàn cảnh tự nhiên (địa dư, khí hậu...) hoàn cảnh xã hội, kinh tế (giàu nghèo, lớn bé), thời điểm phát sinh bệnh... của người bệnh để chọn phương thuốc điều trị cho thích ứng. Có thể sử dụng các phương pháp tổng hợp sau:

  • Tâm lý liệu pháp
  • Dự phòng trong điều trị: dưỡng sinh, khí công, thái cực quyền…   
  • Ăn uống bồi dưỡng
  • Dùng châm cứu, xoa bóp, thuốc…
  • Khi dùng thuốc bao giờ cũng chú trọng đến các thuốc nâng cao các mặt yếu của cơ thể (bổ hư) về âm, dương, khí, huyết, tân dịch…rồi mới đến các thuốc tấn công vào tác nhân gây bệnh.

 

3.3. Trong phòng bệnh

"Phòng bệnh hơn chữa bệnh", đừng để bệnh tật xảy ra rồi mới điều chỉnh, nhưng giữ và phòng sao cho bệnh tật không thể xảy ra hoặc nếu lỡ có xảy ra thì cũng giảm nhẹ hơn.

3.3.1. Phòng bệnh tiêu cực (thụ động):

  • Ăn uống tốt, mặc ấm, giữ gìn vệ sinh cá nhân...
  • Điều độ sinh hoạt, tình dục, lao động...

3.3.2. Phòng bệnh tích cực :

  • Thay đổi nếp sống lạc hậu, bỏ những tập quán mê tín.
  • Cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ đời sống.
  • Rèn luyện thân thể : Thể dục, Thể thao, Y võ dưỡng sinh...
  • Phương pháp rèn luyện sức khỏe đã được danh y Tuệ Tĩnh tóm kết trong câu :

"Bế tinh, Dưỡng khí, Tồn thần,

Thanh tâm, Quả dục, Thủ chân, Luyện hình".

  • Chống dục vọng cá nhân, rèn luyện ý chí, cải tạo bản thân và xã hội, xây dựng tinh thần lạc quan

IV. TỔNG KẾT HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

Qua 3 Học thuyết : Âm dương, Ngũ hành và Thiên Nhân Hợp Nhất, Y học cổ truyền dân tộc đi đến quan niệm toàn diện, thống nhất, chỉnh thể trong công tác phòng và trị bệnh. Người thầy thuốc phải thấy con người ở thể THỐNG NHẤT TOÀN VẸN giữa các chức phận, tinh thần và vật chất, cá nhân và hoàn cảnh bên ngoài, để tìm ra các mâu thuẫn xáo trộn trong quá trình bệnh lý và giải quyết các mâu thuẫn đó bằng phương pháp TÍCH CỰC VÀ ĐÚNG ĐẮN NHẤT.

Ngoài ra, Thiên 'Ngọc Bản' (LKhu 60) đề cập đến vai trò của con người trong vũ trụ cũng đã ghi : "Phù chân giả, thiên địa chi trấn dã, Kỳ bất khả tham hộ" (Này, con người là quý nhất trong trời đất, không thể không xứng đáng đứng giữa trời đất). Muốn xứng đáng đứng trong trời đất, phải biết hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ, với mọi người.

Hiện nay, theo Tổ chức y tế thế giới (OMS - WHO) thì sức khỏe được hiểu không chỉ là không bệnh tật mà còn bao hàm 1 cuộc sống thoải mái về tinh thần, thể chất và xã hội. Điều này cho thấy, người ta đã quan tâm đến con người 1 cách toàn diện (thể chất, tinh thần và môi trường xã hội). Điều này cha ông chúng ta đã đề ra từ ngàn xưa, chúng ta cố gắng duy trì, phát huy và hoàn thiện hóa dần mà thôi.

Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc

Tham khảo bài nguyên mẫu tại đây : Học thuyết thiên nhân hợp nhất

Thủy khí – Học thuyết ngũ hành

Nhìn vào đồ Thái cực, Phương Bắc, Mùa Đông, buổi tối khuya là dấu hiệu của Thái âm, âm khí ngự trị hoàn toàn, trời đất u tối, lạnh lẽo, cảnh vật điêu tàn, thê lương, tất cả đang đi vào cõi chết, trong khi đó, mọi sinh vật đều lo ẩn núp, trốn tránh cái lạnh lẽo giá buốt của âm khí để cố duy trì và bảo tồn dương khí còn lại, tránh khỏi bị tiêu diệt, để chờ đợi mùa xuân (khởi đầu Thiếu Dương) để phát triển Dương khí đem lại sức sống. Dương khí ở nơi người chính là Thủy khí.

(more…)

Coi bài nguyên văn tại : Thủy khí – Học thuyết ngũ hành

Thổ khí – Học thuyết ngũ hành

Học thuyết Ngũ hành âm dương là học thuyết cơ bản của Y học cổ truyền – Trung y. Trong đó, nơi đồ Thái cực, Thổ nằm ở giữa (trung ương), là nơi kết tụ tinh hoa của thức ăn rồi đi phân phối cho toàn cơ thể.

(more…)

Tham khảo bài viết gốc ở : Thổ khí – Học thuyết ngũ hành

Mộc khí – Học thuyết ngũ hành

Phương Đông, mùa Xuân, buổi sáng là biểu hiện của thiếu dương khí (theo đồ hình thái cực). Tính chất của thiếu Dương là khởi sinh, khởi động. Thiếu dương khí ở người chính là Mộc khí.

(more…)

Coi bài nguyên văn tại : Mộc khí – Học thuyết ngũ hành

Kim khí – Học thuyết ngũ hành

Trong học thuyết Ngũ hành chúng ta phải kể đến Kim khí. Kim khí là nuồn năng lực xuất phát từ thiếu âm. Theo đồ Thái  cực Kim khí đại diện cho phương Tây, mùa Thu và buổi chiều tối.

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM KHÍ

  • Phương Tây, mùa Thu, buổi chiều tối là biểu hiện của Thiếu âm (theo đồ Thái cực).
  • Kim khí là nguồn năng lực phát xuất từ Thiếu âm.

Kim-khi-hoc-thuyet-ngu-hanh

(Biểu tượng Kim Khí - Sưu tầm)

II. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA KIM KHÍ

2.1. Kim khí về cơ thể

2.1.1. Mũi và Khứu giác

  • Thiên “Ngũ Duyệt Ngũ Sứ” (LKhu 32) ghi : "Phế khai khiếu ở mũi, Phế khí thông lên mũi".
  • Mũi là cửa của bộ hô hấp, nên có liên hệ đến Kim khí.
  • Lông mũi là Thủy của Phế. Lông mũi dầy, dậm là dấu hiệu Thủy của phế vượng. Lông mũi ít, thưa là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
  • Mạch máu ở mũi là biểu hiện Hỏa của Phế, do đó, mũi nóng đỏ, sưng, chảy máu mũi là Hỏa của Phế vượng.
  • Gân cơ ở mũi là biểu hiện Mộc của Phế, nơi người viêm, lao phổi... Kim suy khắc được Mộc khiến Phế Mộc vượng lên, làm cánh mũi phập phồng (có thể dựa vào dấu hiệu này để chẩn đoán bệnh về Phế 1 cách chính xác).
  • Cơ nhục là dấu hiệu của Thổ, trong mũi mọc thịt dư sau khi viêm là dấu hiệu Thổ của Phế vượng. (Hỏa sinh Thổ).
  • Khứu giác có liên hệ đến mũi :
    • Mũi hoàn hảo, có khả năng phân biệt được mùi vị 1 cách chính xác và hoàn hảo. Một số dân tộc thiểu số có khả năng phân biệt được mùi vị của từng loại vật vừa đi qua.
    • Mũi bị rối loạn, (viêm nhiễm, có tật...) ảnh hưởng đến khứu giác, làm khứu giác giảm, có khi không còn cảm giác, mùi vị gì.
    • Các chuyên gia Đại Học Tổng Hợp Pensylvania (Mỹ) điều tra 1955 người từ 5-99 tuổi cho thấy : lứa tuổi từ 20-40 (thời gian vượng của Thiếu âm Kim khí) có khứu giác nhạy hơn cả. Tuổi 65-80 (thời gian Thiếu âm và Thái âm suy) hầu như mất khả năng phân biệt mùi đến 1/4.

2.1.2. Nước mũi

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : “Nước mũi là dịch của Phế”.
  • Mũi có liên hệ đến hô hấp, nước là biểu hiện của Thủy dịch, do đó, nước mũi là dấu hiệu Thủy của Phế.
  • Sổ mũi, nước mũi nhiều và trong là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
  • Vào mùa đông, buổi sáng khí lạnh, đi mưa về lạnh làm thủy khí suy người ta hay bị sổ mũi.

2.1.3. Họng, Thanh quản, Giọng nói (âm thanh)

  • Thiên “Ngũ Duyệt Ngũ Sứ” (LKhu 32) ghi : “Phế chủ âm thanh”.
  • Họng là 1 phần của bộ hô hấp, nơi đây có thanh quản, tuyến Amidal, Vòm họng... đều chịu sự chi phối các khí của Phế.
  • Họng, Amidal sưng, lở loét... là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
  • Thanh quản bị viêm, các dây rung phát âm sưng, gây ra khan tiếng là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng (làm Mộc vượng gây co rút thanh quản làm khản tiếng).
  • Khi phải la hét, nói nhiều, Mộc khí bị huy động quá, sau đó suy sụp làm khản tiếng, tắc tiếng là dấu hiệu Mộc của Phế suy.
  • Người Mộc khí vượng thường nói lớn tiếng, âm thanh mạnh, do đó, qua giọng nói, không những biết được phần nào tình trạng của Phế khí mà còn biết được phần nào nội lực dựa trên đặc tính của âm thanh.
  • Tiếng la hét thuộc Can, người có tiếng hét to, vang là người có Mộc khí của Can vượng.
  • Tiếng la yếu, khàn là dấu hiệu Mộc của Can suy.
  • Tiếng cười thuộc Tâm, cười vanga, to... là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.
  • Tiếng hát thuộc Tỳ, tiếng khóc thuộc Phế, tiếng rên thuộc Thận... có thể dựa vào cường độ to nhỏ, mạnh yếu để chẩn đoán được tình trạng vượng suy của các tạng phủ liên hệ.

2.1.4. Tuyến giáp

  • Quanh vùng tuyến giáp có những cơ quan liên hệ mật thiết với chức năng hô hấp, gọi là xoang cảnh, rất nhạy cảm với các biến thiên của áp lực không khí và tuyến cảnh phản ứng rất mẫn cảm mỗi khi hóa tính không khí, do đó, giữa tuyến giáp và phế khí có liên hệ với nhau vì "Phế chủ hô hấp".
  • S. Herbute và 2 cộng sự viên thuộc nhóm sinh học Montpeellier ngày 22-1-1972 đã công bố kết quả : Hoạt động tuyến giáp đến độ tối đa giữa 2-3g sáng là giờ của Phế khí vượng (giờ Dần từ 3-5g) do đó, tuyến giáp và Phế có liên hệ với nhau.
  • Bướu cổ đơn thuần (tuyến giáp suy) là dấu hiệu Thổ của Phế suy. Bướu cổ lồi mắt (BASEDOW, tuyến giáp cường) là dấu hiệu Thổ của Phế vượng.

2.1.5. Da lông

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : “Phế chủ da lông (Bì mao)”.
  • Da lông là phần trực tiếp tiếp xúc với không khí (Kim khí) do đó, giữa da lông và kim khí có sự liên hệ với nhau.
  • Theo Eaton : Da lông và tóc ở người mọc rất nhanh vào các tháng 7, 8 và nhanh nhất vào tháng 9 (tức vào mùa thu, là mùa kim khí vượng), do đó, giữa lông tóc và Kim khí có sự liên hệ với nhau.
  • Da khô, viêm, nóng, xuất huyết dưới da là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
  • Cơ nhục của da phì đại (bướu, mô mỡ...) là dấu hiệu Thổ của Phế vượng.
  • Khi tức giận Mộc khí gia tăng làm cho lông tóc dựng lên là dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
  • Lông tóc là biểu hiện Thủy của Phế, vì thế lông măng xanh nhiều là dấu hiệu Thủy của Phế vượng, ngược lại, ít lông, lông khô, rụng là dấu hiệu Thủy của Phế suy.                
  • Da trắng đục, trắng bạch là dấu hiệu kim khí suy. Người có nước da này hay buồn hay lo (thường gặp nơi người lao phổi). Những vần thơ, khúc bi kịch não nề nhất, những chuyện tình sử thảm thương nhất như : Roméo Juliette, chuyện tình Love Story... đều xuất phát từ dân tộc da trắng.

2.2. Kim khí về chức năng

2.2.1. Hơi khí

  • Nội Kinh : “Bao nhiêu khí đều thuộc về Phế”.
  • Tính chất của thiếu âm là bốc hơi, liên hệ đến thể hơi, khí.
  • Tùy theo biểu hiện suy vượng của hơi, khí ở vùng nào, có thể suy đoán bệnh ở vùng ấy.
    • Tức hơi trong phổi là dấu hiệu kim của Phế suy.
    • Tức hơi dội lên phía trên là dấu hiệu kim của Tâm suy.
    • Tức hơi vùng bụng là dấu hiệu kim của Tỳ suy.
    • Tức hơi vùng bụng dưới là dấu hiệu kim của Thận suy.

2.2.2. Hô hấp

  • Thiên “Ngũ Tạng Sinh Thành” (TVấn 10) ghi : “Phế chủ hô hấp”.
  • Cơ năng hô hấp liên hệ đến không khí, do đó chịu sự chi phối đặc biệt của kim khí.
  • Cơ năng hô hấp có nhiệm vụ trao đổi khí : hít thanh khí vào và thải trọc khí (khí dơ, xấu ra).
    • Thở vào : Đưa không khí từ ngoài vào (tức từ Biểu vào Lý) là dấu hiệu Mộc của Phế ở Biểu (tức là liên hệ đến Mộc của đại trường) chính nhờ Mộc của Phế ở Biểu làm cho bắp thịt, lồng ngực nâng lên, gia tăng thể tích lồng ngực, làm không khí vào phổi. Phổi thở vào khó khăn, hơi không đầy phổi là dấu hiệu Mộc của Đại trường suy.
    • Thở ra : Đẩy không khí từ trong ra ngoài tức là từ Lý ra Biểu là biểu hiện Mộc đó Phế ở Lý. Mộc khí này liên hệ với cơ năng của cơ hoành và các cơ bụng, làm thể tích lồng ngực thu hẹp, đẩy không khí ra, làm thở ra. Người bệnh thở ra dồn dập (như trong bệnh suyễn, Tâm phế mãn...) là dấu hiệu Kim của Phế suy làm Mộc vượng lên, gây ra suyễn, khó thở.
    • Thở dốc : Người bị xuất huyết nhiều, khí huyết hao hụt, Phế kim suy kiệt làm Mộc của Phế vượng lên gây nên thở nhanh và gấp trong giai đoạn đầu (biểu hiện qua cánh mũi phập phồng) và khí Mộc của Phế bị huy động quá trở nên suy thì người bệnh lại thở yếu, thở dốc trong giai đoạn sau.
  • Theo "FAMILY SAFETY" của Canada, tại Hiệp hội về môn học bệnh phổi ở Mỹ các nhà nghiên cứu thông báo : uống 1 ly rượu hoặc nước giải khát có pha rượu trước khi đi ngủ có thể có những hậu quả đáng tiếc với việc hô hấp trong lúc ngủ. Số người uống rượu, 1 số bị 110 lần ngưng thở, ít nhất mỗi lần trong 10 giây, còn không uống rượu khi đi ngủ thì chỉ bị có 20 lần ngưng thở (uống rượu vào làm Hỏa vượng, ban đêm thuộc Thái âm, Thủy suy, Thủy suy làm Hỏa bùng lên mạnh hơn, Hỏa khắc kim, gây ra ngưng hô hấp).
  • Nữ tiến sĩ tâm lý học S. Harx, Trường đại học Newyork cho rằng hô hấp và tính cách có liên hệ với nhau.
    • Người hô hấp sâu và chậm (kim khí sung mãn, đầy đủ) thì tính tình thường kiên định, kiên quyết, thích mạo hiểm, suy nghĩ và hành động nhanh nhẹn biết cách sắp xếp cuộc sống riêng mình (dấu hiệu Thủy khí sung mãn, do kim sinh Thủy).
    • Người hô hấp nhanh và nông (dấu hiệu kim suy) thì tính tình thường hay ngượng nghịu, hiền lành, nhút nhát, rụt rè, sống quen dựa vào người khác (dấu hiệu Thủy suy, kim suy làm Thủy suy).

2.2.3. Ho

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: “Ở sự biến động của Phế là ho”.
  • Ho là 1 tác động ly tâm(từ trong ra ngoài tức từ lý ra biểu) nhằm mục đích đưa hơi thở, đàm nhớt... từ trong ra ngoài, có liên hệ đến Mộc của Phế.
  • Trên lâm sàng thường gặp 2 loại Ho :
    • Ho khan (khái) : Ho không có mục đích loại đờm nhớt là dấu hiệu Mộc của phế vượng.
    • Ho đàm (khái thấu) : Tiếng ho có kèm theo sự thải trừ đàm nhớt ra ngoài cũng là dấu hiệu Mộc của phế.
  • Theo Colome vào lúc sáng sớm (cuối giấc ngủ) lúc đó máu tụ lại trong phổi làm gây nên các cơn ho buổi sáng sớm nơi người bị viêm phổi (Hỏa vượng làm Mộc vượng - buổi sáng là thời điểm Mộc khí vượng).

2.2.4. Hen suyễn

  • Theo Reinberg, cơn hen suyễn thường gặp cao điểm nhất từ 24-4g tức là lúc phế khí thịnh (giờ Dần 3-5g) như vậy giữa suyễn và phế khí có liên hệ mật thiết.
  • Thiên “Bản Thần” (LKhu 8) cũng ghi : Khí nghịch lên gây ra chứng suyễn, cũng theo Nội Kinh : “Phế chủ khí, Thận nạp khí”, do đó suyễn cũng liên hệ với Thận.
  • Theo Frank, thời gian cơn hen suyễn trùng hợp với thời gian bài tiết Cocticoit ra nước tiểu xuống tới mức thấp nhất, do đó giữa suyễn và Thận có mối liên hệ với nhau.
  • Phân tích 1 cơn suyễn ta thấy : Suyễn một hợp chứng gồm 5 triệu chứng :
    • Tức trướng trong phổi, khó thở là dấu hiệu kim của Phế suy.
    • Đờm tiết ra nhiều là dấu hiệu Thổ của Phế suy.
    • Nhớt ra nhiều, nghe tiếng phổi thấy ran ẩm là dấu hiệu thủy của Phế suy.
    • Khí quản co thắt, thở dồn dập, nghe phổi thấy tiếng rít là dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
    • Khí quản viêm là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng. Hội chứng này là do Kim suy làm Thủy suy (Tương sinh), Thổ suy (Phản sinh), Mộc vượng (Tương vũ), Hỏa vượng (Tương thừa).
  • Theo các nhà khoa học màng nhày của khí quản và cuống Phổi dễ nhạy cảm bởi không khí ô nhiễm vì đủ loại... Sự nhạy cảm đó gây ra co rút (Mộc vượng) làm ho hoặc suyễn. (Kim suy) : Tạp chí Nature ngày 23-3-1983 công bố 1 kết quả cho thấy chất Capsaicin chất cay của ớt (cay thuộc Kim) có tính làm cho màng nhày bớt nhạy cảm (Kim khắc Mộc), co thể dùng để trị chứng phù của màng nhày (Kim sinh Thủy) của những người có khí quản nhạy cảm (Mộc vượng) và người bị suyễn (Kim suy).

2.2.5. Đàm

  • Đàm là chất bài tiết rà bộ hô hấp, do đó có liên hệ đến Phế.
  • Tùy theo tính chất và màu sắc của đàm, có thể đoán biết sự rối loạn bệnh lý từ đâu.
    • Đàm có lẫn máu, đàm khô quánh là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
    • Đàm có màu xanh (hay gặp nơi người ho nhiều do cảm nhiễm), dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
    • Đàm màu vàng đặc, (hay gặp trong trường hợp hội nhiễm tụ cầu), dấu hiệu Thổ của Phế vượng (tăng cường Thổ khí chống lại môi trường ẩm thấp, là môi trường tạo nên các tụ cầu khuẩn).
    • Đàm trong, loãng và nhiều dấu hiệu thủy của Phế suy.

2.2.6. Buồn sầu - Lo âu

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : “Chí của Phế là ưu (lo âu)”.
  • Nơi Đồ Thái cực, Thiếu âm Kim khí là trung gian của sự vui mừng quá độ (Thái dương) đã chấm dứt và sự sợ hãi chết chóc (Thái âm) sắp bắt đầu. Giữa 2 trạng thái này, con người đâm ra lo âu, buồn sầu, buồn cho cái vui đã qua và lo cho cái tàn tạ sắp đến.
  • Mùa thu, cây cối thay lá, lúa mùa chín tới chờ gặt... làm cho lòng người cũng vì thế mà buồn.
  • “Ưu thương Phế” (sự lo âu hại Phế): Những nguyên nhân bên ngoài gây sự lo buồn làm Kim khí suy và ngược lại người Kim khí suy thì hay buồn.
  • Để biểu hiện sự buồn rầu về cái chết trong tang chế. Người Á Đông thường dùng tang phục, khăn tang, vải liệm... màu trắng (Sắc trắng là sắc của Kim).

2.3. Về ngoại giới - Kim khí và Táo khí

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : “Táo sinh Kim”.
  • Y Tông Kim Giám : "Trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, ở thể là Bì". Kim khí thông với Phế khí, do đó, các bệnh do Táo khí gây ra đều thuộc về Phế Kim.
  • Triệu chứng của Táo là khô cổ, khát nước, bón, tiểu ít, da khô, tróc vẩy, Tân dịch hao hụt...
  • Thiếu âm ứng với phương Tây, buổi chiều tối, mùa thu là thời điểm Táo khí vượng lên, Kim khí ở người cũng theo đó vượng lên.
  • Người Kim khí suy, sẽ dễ chịu vào buổi chiều tối, mùa Thu (là thời điểm Kim khí vượng) và nặng hơn (khó chịu hơn) vào buổi trưa, mùa hè là thời điểm của Hỏa khí vượng (Hỏa khắc Kim).

Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc

Xem nguyên bài viết tại : Kim khí – Học thuyết ngũ hành

Hỏa khí – Học thuyết ngũ hành

Phương nam, mùa hè, buổi trưa là biểu hiện của Thái dương (theo đồ Thái cực). Tính chất rõ rệt nhất của Thái dương là Nhiệt khí. Ở người được gọi là Hỏa khí. Hỏa khí (hay còn gọi là Nhiệt) là một trong sáu yếu tố vẫn luôn tồn tại bên trong cơ thể, giữ cho cơ thể hoạt động một cách điều hòa. Bên cạnh Hỏa còn có Phong (gió), Thấp (độ ẩm), Táo (độ khô), Hàn (lạnh), Thử (nắng), tất cả gọi chung là Lục Khí (6 thứ Khí).

I. ĐẠI CƯƠNG – HỎA KHÍ

Phương nam, mùa hè, buổi trưa là biểu hiện của Thái dương (theo đồ Thái cực). Tính chất rõ rệt nhất của Thái dương là Nhiệt khí. Ở người được gọi là Hỏa khí.

Theo A. Reinberg, trong "La Nouvelle Presse Médicale" tập 2, số 5, ngày 3-2-1973 thì các cực số liên hệ đến những trường hợp tử vong vì Tim và huyết mạch đều ở trong khoảng tháng tư, năm, sáu (thời điểm của mùa hè) tương ứng của Thái dương, hỏa khí, do đó, mùa hè và Hỏa khí có liên hệ với nhau.

Tạp chí Y học Liên Xô "Kochmicheskaia Biologia I Meditsima" số 1, năm 1972 ghi : " Trong ngày đêm, trên máy ghi biểu đồ tiếng Tim, tính động lực của mạch và phương diện chu kỳ biên độ đạt mức tối đa giữa khoảng 11-13h (giờ Ngọ), giữa trưa, cao điểm của Thái dương, đồng thời là giờ vượng của Tâm kinh), do đó, buổi trưa và Hỏa khí có liên hệ với nhau.

hoa-khi-hoc-thuyet-ngu-hanh

(Biểu tượng Hỏa Khí - Sưu tầm)

II. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA HỎA KHÍ

2.1. Hỏa khí về cơ thể

2.1.1. Lưỡi và vị giác

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Tâm khai khiếu ở lưỡi".
  • Lưỡi thường thường có sắc đỏ, biểu hiện Hỏa khí 1 cách rõ rệt.
  • Lưỡi lở, dộp, nứt nẻ, viêm (sưng)... là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
  • Tùy theo màu sắc của lưỡi, có thể suy ra tình trạng vượng suy ngũ hành của Tâm.
  • Lưỡi hồng nhạt là dấu hiệu Hỏa của Tâm suy.
  • Lưỡi xanh tối là dấu hiệu Mộc của Tâm suy.
  • Lưỡi vàng tối là dấu hiệu Thổ của Tâm suy.
  • Lưỡi đen bẩn là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
  • Miệng có vị đắng (lưỡi đắng) là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
  • Miệng có vị chua là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.

2.1.2. Mồ hôi

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : "Mồ hôi là dịch của Tâm".
  • Khi trời nóng, lúc bị sốt, thường thấy có hiện tượng xuất mồ hôi, do đó, Hỏa khí và mồ hôi có liên hệ với nhau. Mồ hôi là Thủy dịch dùng để chế ngự Hỏa khí.
  • Sốt mà có mồ hôi là dùng hiệu tốt : Thủy khí còn vững mạnh để chống lại với nhiệt tà.
  • Sốt mà không có mồ hôi là dấu hiệu nhiệt tà mạnh hơn chính khí.
  • Khi bị cảm, sốt nóng, không ra được mồ hôi, người ta dùng nồi xông cho đổ mồ hôi để ức chế nhiệt tà, người ta sẽ bớt sốt.
  • Không nóng sốt mà xuất mồ hôi (Mồ hôi lạnh hay gặp ở những người thần kinh suy nhược) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
  • Tự ra mồ hôi (tự hãn) hoặc ra mồ hôi ban đêm (mồ hôi trộm, đạo hãn) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

2.2. Hỏa khí về chức năng

2.2.1. Chủ thần minh

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : "Tâm tàng thần".
  • Thiên “Thiên Niên” (LKhu 54) ghi : "Còn Thần thì sống, mất thần thì chết", tuần hoàn còn thì sống, tuần hoàn ngưng thì chết, do đó Tâm và thần có liên hệ với nhau.
  • Với người bệnh : người có thần, biểu hiện bằng nét mặt tươi sáng, ánh mắt nhanh nhẹn, nói cười đứng đắn, ý tưởng phân minh thì bệnh có chiều hướng tốt, dễ điều trị. Ngược lại, gọi là hiện tượng mất (thất) thần, dấu hiệu của bệnh trầm trọng, nguy hiểm.
  • Tinh thần căng thẳng, thần trí bị xúc động sinh ra hoạt náo, nóng nẩy, hằn học, lăn lộn, mất ngủ, nằm ngồi không yên, kích động, phá phách mọi người chung quanh (điên cuồng).
  • Tâm trí suy nhược, Thần không có chỗ dựa, người bệnh sinh ra ngớ ngẩn, hay quên, lo lắng, hồi hộp, sợ hãi thất thường.
  • Vẫn bác sĩ tại Massachusetts, sau khi nghiên cứu 1.000 người cho thấy; sự căng thẳng tinh thần có thể gây đau tim. Khi thí nghiệm, những người này được gặp những tình trạng nhân tạo tương tự các trường hợp gây sự căng thẳng tinh thần trong đời sống hằng ngày của họ. Điều đáng chú ý là những người này trông có vẻ khỏe mạnh và điềm Tỉnh trong suốt thời gian trắc nghiệm. Nhưng sau đó sự căng thẳng tinh thần đã gây ra 1 số tai nạn trong tim và huyết quản của họ. Một số người tim bắt đầu bơm mạnh hơn và với một số người khác thì tim lại bơm máu ít hơn. Ở một số người, huyết quản nở ra, số khác lại co vào làm tăng huyết áp. Trường hợp nặng hơn, áp huyết lên cao và Tim bơm thêm máu vào nhưng huyết quản lại co lại và trở thành nhỏ hẹp hơn giới hạn sự lưu thông của máu làm tim phải làm việc rất mệt để đẩy máu vào động mạch.

2.2.2. Phát nhiệt

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Phương Nam sinh nhiệt".
  • Viêm nhiệt là dấu hiệu Hỏa vượng.
  • Tùy theo vùng và vị trí phát nhiệt, có thể suy ra dấu hiệu Hỏa vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Tâm là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
    • Sờ đầu mặt, trán, ngực thấy nóng là dấu hiệu Hỏa ở Biểu của Tâm vượng.
    • Nóng trong đầu, cảm thấy nóng trong ngực... như dấu hiệu Hỏa ở lý của Tâm vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Thận (lưng nóng, lòng bàn chân nóng...) là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Can (Mắt sưng đỏ, đau...) là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Tỳ (Miệng lở, môi nứt...) là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.

2.2.3. Tâm chủ huyết

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Ở thể của Tâm là mạch".
  • Xung huyết liên hệ mật thiết với sự phát nhiệt, do đó, huyết mạch và hỏa khí có liên hệ với nhau.
  • Xung huyết, xuất huyết là dấu hiệu Hỏa khí vượng.
  • Tùy vùng xung huyết hoặc xuất huyết, có thể biết được tình trạng Hỏa khí ở vùng nào gia tăng.
    • Xuất huyết não, đau bưng cả đầu là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
    • Xuất huyết đáy mắt là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
    • Xuất huyết bao tử là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
    • Xuất huyết Phổi là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
    • Xuất huyết đường tiểu là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng.

2.2.4. Sự vui mừng

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Ở chí của Tâm là vui mừng (Hỷ)".
  • Khi người ta gặp điều gì vui mừng, Hỏa khí bùng lên, da mặt đỏ, hồng, mạch nhảy nhanh hơn, Tim đập mạnh hơn... do đó, sự vui mừng và Hỏa khí có liên hệ với nhau.
  • Sự vui mừng do ngoại giới đưa đến, làm Hỏa khí bùng lên, Tâm khí biến đổi theo 2 giai đoạn :
    • Giai đoạn đầu : Tâm Hỏa vụt mạnh lên, vì bị huy động (cười hả hê, mặt hồng hào hoặc đỏ bừng, tim đập nhanh).
    • Giai đoạn hai : Tâm Hỏa suy yếu, vì bị kích thích, (mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi, lạnh người trụy mạch, tim đập chậm, yếu...
  • Nhiều người bất ngờ trúng số độc đắc, quá vui mừng (Tâm Hỏa bùng lên) có thể ngất hoặc chết (Tâm Hỏa suy).
  • Như vậy có 2 hình thức vui mừng :
    • Vui mừng do ngoại giới đưa đến, làm cho Tâm Hỏa chỉ bùng lên một thời gian rồi bị suy yếu, đó là nguyên nhân lớn lao của sự đau khổ.
    • Vui mừng của những người hiền triết, của các nhà cách mạng là sự vui mừng biết làm chủ được mình, không bị ngoại cảnh chi phối, sự vui mừng làm cho tâm hồn thoải mái, đem lại vui tươi, hạnh phúc.

2.2.5. Tiếng cười

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Tiếng của Tâm là tiếng cười".
  • Trong các buổi tiệc, hoàn cảnh náo nhiệt, vui mừng, hội hè, say sưa, tiếng cười luôn nổi bật.
  • Rượu uống vào, kích thích Hỏa khí làm người ta cười.
  • Nơi người điên dạng hưng phấn, Hỏa khí vượng lên, làm người đó cười luôn miệng.
  • "Tâm tàng thần", nếu Tâm suy kém, không tàng được thần ( Trong trường hợp bệnh về não, bệnh tâm thần) người ta không làm chủ được tiếng cười, có khi mất hẳn nụ cười.
  • Nếu ta thường xuyên có những nụ cười thoải mái, chân thành, ta sẽ luôn vui mừng cường tráng.
  • Theo giáo sư Uphrai, đại học Standford (Mỹ) và các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha, khi cười thoải mái nhất, các cơ ngực khỏe ra, và tim được vận động tốt. Vì thế người ta vẫn thường ví : "Nụ cười là liều thuốc bổ".

2.3. Hỏa khí về Ngoại Giới

2.3.1. Sắc đỏ

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Sắc của Tâm là sắc đỏ".
  • Sắc của các chứng viêm nhiệt, xung huyết là sắc đỏ.
  • Tùy theo vị trí có sắc đỏ, có thể biết được trạng thái viêm nhiệt, xung huyết của các cơ quan tạng phủ tương ứng.
    • Lưỡi đỏ là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
    • Mắt đỏ là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
  • Giáo sư Halôtunônfat, đại học Abôđôn (Canada) cho biết, trong môi trường có nền là ánh sáng đỏ, nhịp tim và huyết áp người tăng thêm 17%.
  • Bệnh viện Berlin (CHDC Đức) nghiên cứu qua 3.000 người và nhận thầy là những người bệnh về chức năng Tim đều khó chịu với màu đỏ.
  • Mac Luyxiê, nhà tâm lý học Thụy Sĩ cho rằng : người bệnh Tim theo bản năng đã cự tuyệt trước màu đỏ, một màu có tính kích thích, gây nguy hại cho Tim của họ.
  • Da đỏ, biểu hiện Hỏa khí vượng, các dân tộc da đỏ thường biểu hiện Hỏa khí của mình bằng sự vui mừng nhẩy múa, hò hét rất cuồng nhiệt.

2.3.2. Hỏa khí và Nhiệt khí

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Nhiệt sinh Hỏa".
  • Sách Y Tông Kim Giám ghi : "Trên trời là Nhiệt, dưới đất là Hỏa, ở người là Tâm, ở Thể là mạch".
  • Hỏa khí và Nhiệt khí thông với Tâm, do đó, các bệnh về Hỏa khí và nhiệt khí đều liên hệ với Tâm.
  • Hỏa khí ở người là khả năng đề kháng lại với nhiệt khí bên ngoài. Khi gặp Nhiệt khí, Hỏa khí bị kích thích, xung vượng để rồi sau đó bị suy yếu. Nếu Hỏa khí bị xung động thái quá, sẽ suy kiệt 1 cách đột ngột, dễ rơi vào trạng thái mất đề kháng gây ra trúng nắng, say nóng...
  • Hỏa khí ứng với Thái dương, Phương Nam, Mùa hè buổi trưa, nên cũng vượng lên trong không gian và thời gian trên.
  • Ở người Hỏa vượng, bệnh trở nên trầm trọng vào buổi trưa, mùa hè (là thời điểm Hỏa vượng).
  • Với chứng Hỏa suy, bệnh thuyên giảm vào buổi sáng và trưa (thời điểm của Thiếu dương và Thái dương).

III. HỎA KHÍ VÀ TÂN DỊCH THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN – ĐÔNG Y

3.1. Lý giải hiện tượng hỏa khí theo đông y

Trên thực tế, khi sáu thứ khí bên trong bị rối loạn hoặc bên ngoài thiên nhiên tấn công vào thì cơ thể sinh bệnh tật. Hỏa khí là một yếu tố dễ rối loạn nhất. Trong cơ thể luôn có sự chuyển hóa qua lại giữa sáu yếu tố trên. Các yếu tố Phong, Thấp, Táo, Hàn, Thử cũng có thể hóa thành Hỏa. Ngoài ra các tạng phủ, tình chí cũng biến thành hỏa như can hỏa, tâm hỏa, đởm hỏa,…Vì vậy, trong YHCT sẽ phân biệt ra hai loại:

Hỏa Khí do bên ngoài đưa tới gọi là thực Hỏa (thực Nhiệt) và Hỏa Khí do phần âm hư sinh ra gọi là hư Hỏa (hư nhiệt). Chứng hư nhiệt do âm hư sinh nội nhiệt có các biểu hiện đặc trưng như gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, nhức xương, ra mồ hôi trộm…Đây cũng là những triệu chứng điển hình của hội chứng bốc hỏa mà các chị em phụ nữ thường gặp trong thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh.

3.2. Lý giải cơ chế chứng hư nhiệt theo Y Học Cổ Truyền

Cơ chế của chứng hư nhiệt hoàn toàn phù hợp với nguyên nhân gây bốc hỏa theo YHCT. Chứng hư nhiệt do âm hư sinh nội nhiệt và nguyên nhân gây bốc hỏa là do Thận âm suy tổn. Can âm không được nuôi dưỡng (vì Thận thủy sinh Can mộc) dẫn đến Can thận âm hư hoặc Âm hư hỏa vượng khiến âm thủy không thăng lên được để hạ hỏa xuống, hư hỏa sẽ bốc lên gây cảm giác nóng bừng ở mặt, nhức đầu.

Như vậy, bốc hỏa chính là hậu quả của mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Theo YHCT, Tân Dịch là chất nước của cơ thể, chất trong là Tân, chất đục là Dịch. Tân Dịch cũng do chất dinh dưỡng đồ ăn hóa ra, nhờ sự khí hóa của tam tiêu đi vào các tạng phủ, khớp xương, nước bọt, dịch dạ dày,…Tân đi toàn thân, tưới và nuôi dưỡng các tạng phủ, cơ nhục, kinh mạch, da và tạo thành huyết dịch, không ngừng bổ sung nước cho huyết dịch. Dịch bổ sung cho tinh, tủy, làm khớp xương cử động dễ dàng, làm nhuận da lông.

Ở phụ nữ, Thận âm là nguồn gốc của âm dịch (tân dịch) có tác dụng làm nhuận ướt các tạng phủ của cơ thể. Khi Thận âm hư tổn, âm dịch sinh ra không đủ, người bệnh thường gặp các triệu chứng: chóng mặt, ù tai, đau mỏi lưng gối, lòng bàn chân và bàn tay nóng, ra mồ hôi trộm, miệng khô họng khát, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo, da khô sạm, nhanh mãn kinh, âm đạo khô, đau khi giao hợp.

Theo Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc.

Coi thêm ở : Hỏa khí – Học thuyết ngũ hành