Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Học thuyết thiên nhân hợp nhất

Hoàn cảnh tự nhiên và xã hội luôn tác động qua lại vừa mâu thuẫn và vừa thống nhất với con người. Con người qua sự thích nghi, hòa hợp, chế ngự và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, xã hội để sinh tồn và phát triển. Học thuyết Thiên Nhân Hợp nhất là quan niệm con người là một khối thống nhất với tự nhiên và xã hội. Trong y học cổ truyền, học thuyết này giúp tìm ra nguyên nhân gây bệnh và phương pháp chữa bệnh toàn diện.

I. ĐỊNH NGHĨA HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

Học thuyết Thiên Nhân Hợp Nhất còn gọi là Quan Niệm Chỉnh Thể. Trong y học cổ truyền từ xưa, người ta đã quan niệm: Cơ thể con người là 1 khối thống nhất giữa con người với khí hậu và hoàn cảnh xã hội, phong tục địa phương, có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Trong Y Học, học thuyết này được dùng làm chỉ đạo các phương pháp phòng bệnh, gìn giữ sức khỏe, tìm ra nguyên nhân bệnh và đề ra các phương pháp phòng chữa bệnh toàn diện.

hoc-thuyet-thien-nhan-hop-nhat

(Thiên nhân hợp nhất - Sưu tầm)

II. QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ HOÀN CẢNH TỰ NHIÊN

Con người là một sinh vật trong vũ trụ “Nhân thân tiểu thiên địa” (con người như một vũ trụ thu nhỏ) do đó, chịu mọi ảnh hưởng và chi phối của vũ trụ.

2.1. Hoàn cảnh tự nhiên tác động tới con người.

2.1.1. Khí hậu thời tiết

Trong một năm có 4 mùa : xuân, hạ, thu, đông và có sáu khí (Lục khí) : Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nắng), Thấp (ẩm) (ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nóng), sáu thứ khí này đi theo 4 mùa, tác động đến sức khỏe con người. Khi sức khỏe yếu (chính khí hư), chúng sẽ trở thành những tác nhân gây bệnh bên ngoài gọi là tà khí…

Căn cứ vào chu kỳ nhất định của thời gian, áp dụng phương pháp thống kê, người ta đã xác định được những mùa nào hay có bệnh gì, nhất là bệnh truyền nhiễm.

Thí dụ : Bệnh Bại liệt thường gặp vào mùa xuân, và cuối hè, sốt xuất huyết hay gặp vào tháng 7, 8... Nguy cơ chết vì đau tim cao nhất về tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc...

Việc quy hoạch được thời gian tính của bệnh tật, giúp đưa đến những biện pháp phòng ngừa, phòng chống dịch một cách có hiệu quả.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy : Dược liệu thấm nhập vào cơ thể con người cũng theo một chu kỳ riêng. Năm 1959 Halberg đã thí nghiệm cho chích Ouabain (1 hoạt chất kích thích Tim) cho chuột nhắt, cho thấy, tỷ lệ chết ở các lô tiêm trong khoảng 8-12h rất cao, trái lại, tỷ lệ chết ở lô chích lúc 24h lại rất thấp... Hiểu rõ được thời gian tính của Dược liệu, sẽ giúp đưa Dược liệu vào cơ thể 1 cách chính xác hiệu quả ngay cả khi dùng liều nhỏ nhất.

2.1.2. Hoàn cảnh địa lý, phong tục tập quán.

Miền đồng bằng, miền rừng núi, miền Nam, miền Bắc, tập quán sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng…luôn luôn gây nên những bệnh địa phương và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Miền núi cao, do thiếu lượng Iốt từ biển mang vào, dễ phát sinh bướu cổ. Cuộc sống vội vàng, căng thẳng của người dân thành thị dễ đưa đến các bệnh loét bao tử, loét tá tràng. Khẩu phần dư thừa mỡ đưa đến các chứng xơ mỡ động mạch, suy Tim vành...

Miền rừng núi, đầm lầy, tạo điều kiện cho muỗi sống, dễ gây ra bệnh sốt rét...

2.2. Hoàn cảnh xã hội tác động tới con người

Điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của xã hội cũng tác động đến tư tưởng, tình cảm đạo đức của con người.

Ví dụ như:

  • Tại những nước ngoài, người dân có trình độ cao, rất ít khi gặp các chứng bệnh hay lây, thậm chí nhiều nước, bệnh lao phổi, cùi hủi... hầu như không còn có tên trong sách thuốc của họ nữa.
  • Tại những nước điều kiện kinh tế và văn hóa quá yếu kém, người ta thấy tỷ lệ các bệnh suy dinh dưỡng, bệnh về đường ruột rất cao.
  • Trong một xã hội còn giai cấp bóc lột hoặc trong xã hội hết giai cấp bóc lột những tàn dư tư tưởng văn hoá của xã hội cũ hãy còn tồn tại, gây nên  những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người. Điều kiện kinh tế còn thấp kém, mức sống con người chưa cao là yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ. Tập quán sinh hoạt như. Văn hoá không lành mạnh, những tập tục, những tư tưởng lạc hậu luôn tác động đến tư duy con người…Tất cả những yếu tố tiêu cực trê sẽ gây ra những tác nhân không tốt về tâm lý xã hội là điều kiện gây ra các bệnh nội thương mà YHCT thường nói tới.

2.3. Sự thích ứng của con người với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội

Các yếu tố bên trong cùng yếu tố tự nhiên và điều kiện xã hội luôn tác động tới con người. Chúng gồm những yếu tố tích cực, cần thiết cho sự sống của con người, nhưng ngược lại còn gồm cả những yếu tố góp phần gây ra những sự xáo trộn ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Vì thế, con người cần phải thích ứng, thích ứng với mọi hoàn cảnh, chế ngự và cải tạo thiên nhiên, xã hội... để sinh tồn và phát triển.

Muốn vậy, cần phải có sức khỏe, có sự hiểu biết để thích ứng với hoàn cảnh dưới nhiều hình thức phong phú : từ cách nghĩ, cách làm, lối sống đều phải hòa nhịp với tự nhiên, thời đại, có như thế mới sinh tồn và phát triển được.

III. ỨNG DỤNG VÀO Y HỌC

3.1. Trong chẩn đoán

Phải biết kết hợp nhiều mặt : Yếu tố bên ngoài (Lục khí : Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa) và yếu tố bên trong (vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ, thất tình) nắm được thời điểm gây bệnh (theo mùa, theo Ngũ vận Lục khí...), hiểu được hoàn cảnh (giàu nghèo, địa dư, phong tục...).

Tuy nhiên, chủ yếu phải nhận định rằng : Bệnh tật chỉ xảy ra do sự thay đổi nội tạng, tức là giảm sút sự đề kháng (chính khí hư) làm cơ thể không thể thích ứng được với ngoại cảnh, gây bệnh (tà khí thịnh).  Chính khí hư là vai trò nội nhân, quyết định sự phát sinh ra bệnh.

3.2. Trong điều trị

Người thầy thuốc Y học cổ truyền dân tộc, trong chữa bệnh, một mặt cần giải quyết nguyên nhân gây bệnh, (đuổi, trục tà khí ra), mặt khác, phải chú trọng đến việc nâng cao sức chống đỡ của cơ thể (phù chính khí). Ngoài ra, còn phải chú ý đến hoàn cảnh tự nhiên (địa dư, khí hậu...) hoàn cảnh xã hội, kinh tế (giàu nghèo, lớn bé), thời điểm phát sinh bệnh... của người bệnh để chọn phương thuốc điều trị cho thích ứng. Có thể sử dụng các phương pháp tổng hợp sau:

  • Tâm lý liệu pháp
  • Dự phòng trong điều trị: dưỡng sinh, khí công, thái cực quyền…   
  • Ăn uống bồi dưỡng
  • Dùng châm cứu, xoa bóp, thuốc…
  • Khi dùng thuốc bao giờ cũng chú trọng đến các thuốc nâng cao các mặt yếu của cơ thể (bổ hư) về âm, dương, khí, huyết, tân dịch…rồi mới đến các thuốc tấn công vào tác nhân gây bệnh.

 

3.3. Trong phòng bệnh

"Phòng bệnh hơn chữa bệnh", đừng để bệnh tật xảy ra rồi mới điều chỉnh, nhưng giữ và phòng sao cho bệnh tật không thể xảy ra hoặc nếu lỡ có xảy ra thì cũng giảm nhẹ hơn.

3.3.1. Phòng bệnh tiêu cực (thụ động):

  • Ăn uống tốt, mặc ấm, giữ gìn vệ sinh cá nhân...
  • Điều độ sinh hoạt, tình dục, lao động...

3.3.2. Phòng bệnh tích cực :

  • Thay đổi nếp sống lạc hậu, bỏ những tập quán mê tín.
  • Cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ đời sống.
  • Rèn luyện thân thể : Thể dục, Thể thao, Y võ dưỡng sinh...
  • Phương pháp rèn luyện sức khỏe đã được danh y Tuệ Tĩnh tóm kết trong câu :

"Bế tinh, Dưỡng khí, Tồn thần,

Thanh tâm, Quả dục, Thủ chân, Luyện hình".

  • Chống dục vọng cá nhân, rèn luyện ý chí, cải tạo bản thân và xã hội, xây dựng tinh thần lạc quan

IV. TỔNG KẾT HỌC THUYẾT THIÊN NHÂN HỢP NHẤT

Qua 3 Học thuyết : Âm dương, Ngũ hành và Thiên Nhân Hợp Nhất, Y học cổ truyền dân tộc đi đến quan niệm toàn diện, thống nhất, chỉnh thể trong công tác phòng và trị bệnh. Người thầy thuốc phải thấy con người ở thể THỐNG NHẤT TOÀN VẸN giữa các chức phận, tinh thần và vật chất, cá nhân và hoàn cảnh bên ngoài, để tìm ra các mâu thuẫn xáo trộn trong quá trình bệnh lý và giải quyết các mâu thuẫn đó bằng phương pháp TÍCH CỰC VÀ ĐÚNG ĐẮN NHẤT.

Ngoài ra, Thiên 'Ngọc Bản' (LKhu 60) đề cập đến vai trò của con người trong vũ trụ cũng đã ghi : "Phù chân giả, thiên địa chi trấn dã, Kỳ bất khả tham hộ" (Này, con người là quý nhất trong trời đất, không thể không xứng đáng đứng giữa trời đất). Muốn xứng đáng đứng trong trời đất, phải biết hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ, với mọi người.

Hiện nay, theo Tổ chức y tế thế giới (OMS - WHO) thì sức khỏe được hiểu không chỉ là không bệnh tật mà còn bao hàm 1 cuộc sống thoải mái về tinh thần, thể chất và xã hội. Điều này cho thấy, người ta đã quan tâm đến con người 1 cách toàn diện (thể chất, tinh thần và môi trường xã hội). Điều này cha ông chúng ta đã đề ra từ ngàn xưa, chúng ta cố gắng duy trì, phát huy và hoàn thiện hóa dần mà thôi.

Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc

Tham khảo bài nguyên mẫu tại đây : Học thuyết thiên nhân hợp nhất

Thủy khí – Học thuyết ngũ hành

Nhìn vào đồ Thái cực, Phương Bắc, Mùa Đông, buổi tối khuya là dấu hiệu của Thái âm, âm khí ngự trị hoàn toàn, trời đất u tối, lạnh lẽo, cảnh vật điêu tàn, thê lương, tất cả đang đi vào cõi chết, trong khi đó, mọi sinh vật đều lo ẩn núp, trốn tránh cái lạnh lẽo giá buốt của âm khí để cố duy trì và bảo tồn dương khí còn lại, tránh khỏi bị tiêu diệt, để chờ đợi mùa xuân (khởi đầu Thiếu Dương) để phát triển Dương khí đem lại sức sống. Dương khí ở nơi người chính là Thủy khí.

(more…)

Coi bài nguyên văn tại : Thủy khí – Học thuyết ngũ hành

Thổ khí – Học thuyết ngũ hành

Học thuyết Ngũ hành âm dương là học thuyết cơ bản của Y học cổ truyền – Trung y. Trong đó, nơi đồ Thái cực, Thổ nằm ở giữa (trung ương), là nơi kết tụ tinh hoa của thức ăn rồi đi phân phối cho toàn cơ thể.

(more…)

Tham khảo bài viết gốc ở : Thổ khí – Học thuyết ngũ hành

Mộc khí – Học thuyết ngũ hành

Phương Đông, mùa Xuân, buổi sáng là biểu hiện của thiếu dương khí (theo đồ hình thái cực). Tính chất của thiếu Dương là khởi sinh, khởi động. Thiếu dương khí ở người chính là Mộc khí.

(more…)

Coi bài nguyên văn tại : Mộc khí – Học thuyết ngũ hành

Kim khí – Học thuyết ngũ hành

Trong học thuyết Ngũ hành chúng ta phải kể đến Kim khí. Kim khí là nuồn năng lực xuất phát từ thiếu âm. Theo đồ Thái  cực Kim khí đại diện cho phương Tây, mùa Thu và buổi chiều tối.

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM KHÍ

  • Phương Tây, mùa Thu, buổi chiều tối là biểu hiện của Thiếu âm (theo đồ Thái cực).
  • Kim khí là nguồn năng lực phát xuất từ Thiếu âm.

Kim-khi-hoc-thuyet-ngu-hanh

(Biểu tượng Kim Khí - Sưu tầm)

II. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA KIM KHÍ

2.1. Kim khí về cơ thể

2.1.1. Mũi và Khứu giác

  • Thiên “Ngũ Duyệt Ngũ Sứ” (LKhu 32) ghi : "Phế khai khiếu ở mũi, Phế khí thông lên mũi".
  • Mũi là cửa của bộ hô hấp, nên có liên hệ đến Kim khí.
  • Lông mũi là Thủy của Phế. Lông mũi dầy, dậm là dấu hiệu Thủy của phế vượng. Lông mũi ít, thưa là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
  • Mạch máu ở mũi là biểu hiện Hỏa của Phế, do đó, mũi nóng đỏ, sưng, chảy máu mũi là Hỏa của Phế vượng.
  • Gân cơ ở mũi là biểu hiện Mộc của Phế, nơi người viêm, lao phổi... Kim suy khắc được Mộc khiến Phế Mộc vượng lên, làm cánh mũi phập phồng (có thể dựa vào dấu hiệu này để chẩn đoán bệnh về Phế 1 cách chính xác).
  • Cơ nhục là dấu hiệu của Thổ, trong mũi mọc thịt dư sau khi viêm là dấu hiệu Thổ của Phế vượng. (Hỏa sinh Thổ).
  • Khứu giác có liên hệ đến mũi :
    • Mũi hoàn hảo, có khả năng phân biệt được mùi vị 1 cách chính xác và hoàn hảo. Một số dân tộc thiểu số có khả năng phân biệt được mùi vị của từng loại vật vừa đi qua.
    • Mũi bị rối loạn, (viêm nhiễm, có tật...) ảnh hưởng đến khứu giác, làm khứu giác giảm, có khi không còn cảm giác, mùi vị gì.
    • Các chuyên gia Đại Học Tổng Hợp Pensylvania (Mỹ) điều tra 1955 người từ 5-99 tuổi cho thấy : lứa tuổi từ 20-40 (thời gian vượng của Thiếu âm Kim khí) có khứu giác nhạy hơn cả. Tuổi 65-80 (thời gian Thiếu âm và Thái âm suy) hầu như mất khả năng phân biệt mùi đến 1/4.

2.1.2. Nước mũi

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : “Nước mũi là dịch của Phế”.
  • Mũi có liên hệ đến hô hấp, nước là biểu hiện của Thủy dịch, do đó, nước mũi là dấu hiệu Thủy của Phế.
  • Sổ mũi, nước mũi nhiều và trong là dấu hiệu Thủy của Phế suy.
  • Vào mùa đông, buổi sáng khí lạnh, đi mưa về lạnh làm thủy khí suy người ta hay bị sổ mũi.

2.1.3. Họng, Thanh quản, Giọng nói (âm thanh)

  • Thiên “Ngũ Duyệt Ngũ Sứ” (LKhu 32) ghi : “Phế chủ âm thanh”.
  • Họng là 1 phần của bộ hô hấp, nơi đây có thanh quản, tuyến Amidal, Vòm họng... đều chịu sự chi phối các khí của Phế.
  • Họng, Amidal sưng, lở loét... là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
  • Thanh quản bị viêm, các dây rung phát âm sưng, gây ra khan tiếng là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng (làm Mộc vượng gây co rút thanh quản làm khản tiếng).
  • Khi phải la hét, nói nhiều, Mộc khí bị huy động quá, sau đó suy sụp làm khản tiếng, tắc tiếng là dấu hiệu Mộc của Phế suy.
  • Người Mộc khí vượng thường nói lớn tiếng, âm thanh mạnh, do đó, qua giọng nói, không những biết được phần nào tình trạng của Phế khí mà còn biết được phần nào nội lực dựa trên đặc tính của âm thanh.
  • Tiếng la hét thuộc Can, người có tiếng hét to, vang là người có Mộc khí của Can vượng.
  • Tiếng la yếu, khàn là dấu hiệu Mộc của Can suy.
  • Tiếng cười thuộc Tâm, cười vanga, to... là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.
  • Tiếng hát thuộc Tỳ, tiếng khóc thuộc Phế, tiếng rên thuộc Thận... có thể dựa vào cường độ to nhỏ, mạnh yếu để chẩn đoán được tình trạng vượng suy của các tạng phủ liên hệ.

2.1.4. Tuyến giáp

  • Quanh vùng tuyến giáp có những cơ quan liên hệ mật thiết với chức năng hô hấp, gọi là xoang cảnh, rất nhạy cảm với các biến thiên của áp lực không khí và tuyến cảnh phản ứng rất mẫn cảm mỗi khi hóa tính không khí, do đó, giữa tuyến giáp và phế khí có liên hệ với nhau vì "Phế chủ hô hấp".
  • S. Herbute và 2 cộng sự viên thuộc nhóm sinh học Montpeellier ngày 22-1-1972 đã công bố kết quả : Hoạt động tuyến giáp đến độ tối đa giữa 2-3g sáng là giờ của Phế khí vượng (giờ Dần từ 3-5g) do đó, tuyến giáp và Phế có liên hệ với nhau.
  • Bướu cổ đơn thuần (tuyến giáp suy) là dấu hiệu Thổ của Phế suy. Bướu cổ lồi mắt (BASEDOW, tuyến giáp cường) là dấu hiệu Thổ của Phế vượng.

2.1.5. Da lông

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : “Phế chủ da lông (Bì mao)”.
  • Da lông là phần trực tiếp tiếp xúc với không khí (Kim khí) do đó, giữa da lông và kim khí có sự liên hệ với nhau.
  • Theo Eaton : Da lông và tóc ở người mọc rất nhanh vào các tháng 7, 8 và nhanh nhất vào tháng 9 (tức vào mùa thu, là mùa kim khí vượng), do đó, giữa lông tóc và Kim khí có sự liên hệ với nhau.
  • Da khô, viêm, nóng, xuất huyết dưới da là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
  • Cơ nhục của da phì đại (bướu, mô mỡ...) là dấu hiệu Thổ của Phế vượng.
  • Khi tức giận Mộc khí gia tăng làm cho lông tóc dựng lên là dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
  • Lông tóc là biểu hiện Thủy của Phế, vì thế lông măng xanh nhiều là dấu hiệu Thủy của Phế vượng, ngược lại, ít lông, lông khô, rụng là dấu hiệu Thủy của Phế suy.                
  • Da trắng đục, trắng bạch là dấu hiệu kim khí suy. Người có nước da này hay buồn hay lo (thường gặp nơi người lao phổi). Những vần thơ, khúc bi kịch não nề nhất, những chuyện tình sử thảm thương nhất như : Roméo Juliette, chuyện tình Love Story... đều xuất phát từ dân tộc da trắng.

2.2. Kim khí về chức năng

2.2.1. Hơi khí

  • Nội Kinh : “Bao nhiêu khí đều thuộc về Phế”.
  • Tính chất của thiếu âm là bốc hơi, liên hệ đến thể hơi, khí.
  • Tùy theo biểu hiện suy vượng của hơi, khí ở vùng nào, có thể suy đoán bệnh ở vùng ấy.
    • Tức hơi trong phổi là dấu hiệu kim của Phế suy.
    • Tức hơi dội lên phía trên là dấu hiệu kim của Tâm suy.
    • Tức hơi vùng bụng là dấu hiệu kim của Tỳ suy.
    • Tức hơi vùng bụng dưới là dấu hiệu kim của Thận suy.

2.2.2. Hô hấp

  • Thiên “Ngũ Tạng Sinh Thành” (TVấn 10) ghi : “Phế chủ hô hấp”.
  • Cơ năng hô hấp liên hệ đến không khí, do đó chịu sự chi phối đặc biệt của kim khí.
  • Cơ năng hô hấp có nhiệm vụ trao đổi khí : hít thanh khí vào và thải trọc khí (khí dơ, xấu ra).
    • Thở vào : Đưa không khí từ ngoài vào (tức từ Biểu vào Lý) là dấu hiệu Mộc của Phế ở Biểu (tức là liên hệ đến Mộc của đại trường) chính nhờ Mộc của Phế ở Biểu làm cho bắp thịt, lồng ngực nâng lên, gia tăng thể tích lồng ngực, làm không khí vào phổi. Phổi thở vào khó khăn, hơi không đầy phổi là dấu hiệu Mộc của Đại trường suy.
    • Thở ra : Đẩy không khí từ trong ra ngoài tức là từ Lý ra Biểu là biểu hiện Mộc đó Phế ở Lý. Mộc khí này liên hệ với cơ năng của cơ hoành và các cơ bụng, làm thể tích lồng ngực thu hẹp, đẩy không khí ra, làm thở ra. Người bệnh thở ra dồn dập (như trong bệnh suyễn, Tâm phế mãn...) là dấu hiệu Kim của Phế suy làm Mộc vượng lên, gây ra suyễn, khó thở.
    • Thở dốc : Người bị xuất huyết nhiều, khí huyết hao hụt, Phế kim suy kiệt làm Mộc của Phế vượng lên gây nên thở nhanh và gấp trong giai đoạn đầu (biểu hiện qua cánh mũi phập phồng) và khí Mộc của Phế bị huy động quá trở nên suy thì người bệnh lại thở yếu, thở dốc trong giai đoạn sau.
  • Theo "FAMILY SAFETY" của Canada, tại Hiệp hội về môn học bệnh phổi ở Mỹ các nhà nghiên cứu thông báo : uống 1 ly rượu hoặc nước giải khát có pha rượu trước khi đi ngủ có thể có những hậu quả đáng tiếc với việc hô hấp trong lúc ngủ. Số người uống rượu, 1 số bị 110 lần ngưng thở, ít nhất mỗi lần trong 10 giây, còn không uống rượu khi đi ngủ thì chỉ bị có 20 lần ngưng thở (uống rượu vào làm Hỏa vượng, ban đêm thuộc Thái âm, Thủy suy, Thủy suy làm Hỏa bùng lên mạnh hơn, Hỏa khắc kim, gây ra ngưng hô hấp).
  • Nữ tiến sĩ tâm lý học S. Harx, Trường đại học Newyork cho rằng hô hấp và tính cách có liên hệ với nhau.
    • Người hô hấp sâu và chậm (kim khí sung mãn, đầy đủ) thì tính tình thường kiên định, kiên quyết, thích mạo hiểm, suy nghĩ và hành động nhanh nhẹn biết cách sắp xếp cuộc sống riêng mình (dấu hiệu Thủy khí sung mãn, do kim sinh Thủy).
    • Người hô hấp nhanh và nông (dấu hiệu kim suy) thì tính tình thường hay ngượng nghịu, hiền lành, nhút nhát, rụt rè, sống quen dựa vào người khác (dấu hiệu Thủy suy, kim suy làm Thủy suy).

2.2.3. Ho

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi: “Ở sự biến động của Phế là ho”.
  • Ho là 1 tác động ly tâm(từ trong ra ngoài tức từ lý ra biểu) nhằm mục đích đưa hơi thở, đàm nhớt... từ trong ra ngoài, có liên hệ đến Mộc của Phế.
  • Trên lâm sàng thường gặp 2 loại Ho :
    • Ho khan (khái) : Ho không có mục đích loại đờm nhớt là dấu hiệu Mộc của phế vượng.
    • Ho đàm (khái thấu) : Tiếng ho có kèm theo sự thải trừ đàm nhớt ra ngoài cũng là dấu hiệu Mộc của phế.
  • Theo Colome vào lúc sáng sớm (cuối giấc ngủ) lúc đó máu tụ lại trong phổi làm gây nên các cơn ho buổi sáng sớm nơi người bị viêm phổi (Hỏa vượng làm Mộc vượng - buổi sáng là thời điểm Mộc khí vượng).

2.2.4. Hen suyễn

  • Theo Reinberg, cơn hen suyễn thường gặp cao điểm nhất từ 24-4g tức là lúc phế khí thịnh (giờ Dần 3-5g) như vậy giữa suyễn và phế khí có liên hệ mật thiết.
  • Thiên “Bản Thần” (LKhu 8) cũng ghi : Khí nghịch lên gây ra chứng suyễn, cũng theo Nội Kinh : “Phế chủ khí, Thận nạp khí”, do đó suyễn cũng liên hệ với Thận.
  • Theo Frank, thời gian cơn hen suyễn trùng hợp với thời gian bài tiết Cocticoit ra nước tiểu xuống tới mức thấp nhất, do đó giữa suyễn và Thận có mối liên hệ với nhau.
  • Phân tích 1 cơn suyễn ta thấy : Suyễn một hợp chứng gồm 5 triệu chứng :
    • Tức trướng trong phổi, khó thở là dấu hiệu kim của Phế suy.
    • Đờm tiết ra nhiều là dấu hiệu Thổ của Phế suy.
    • Nhớt ra nhiều, nghe tiếng phổi thấy ran ẩm là dấu hiệu thủy của Phế suy.
    • Khí quản co thắt, thở dồn dập, nghe phổi thấy tiếng rít là dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
    • Khí quản viêm là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng. Hội chứng này là do Kim suy làm Thủy suy (Tương sinh), Thổ suy (Phản sinh), Mộc vượng (Tương vũ), Hỏa vượng (Tương thừa).
  • Theo các nhà khoa học màng nhày của khí quản và cuống Phổi dễ nhạy cảm bởi không khí ô nhiễm vì đủ loại... Sự nhạy cảm đó gây ra co rút (Mộc vượng) làm ho hoặc suyễn. (Kim suy) : Tạp chí Nature ngày 23-3-1983 công bố 1 kết quả cho thấy chất Capsaicin chất cay của ớt (cay thuộc Kim) có tính làm cho màng nhày bớt nhạy cảm (Kim khắc Mộc), co thể dùng để trị chứng phù của màng nhày (Kim sinh Thủy) của những người có khí quản nhạy cảm (Mộc vượng) và người bị suyễn (Kim suy).

2.2.5. Đàm

  • Đàm là chất bài tiết rà bộ hô hấp, do đó có liên hệ đến Phế.
  • Tùy theo tính chất và màu sắc của đàm, có thể đoán biết sự rối loạn bệnh lý từ đâu.
    • Đàm có lẫn máu, đàm khô quánh là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
    • Đàm có màu xanh (hay gặp nơi người ho nhiều do cảm nhiễm), dấu hiệu Mộc của Phế vượng.
    • Đàm màu vàng đặc, (hay gặp trong trường hợp hội nhiễm tụ cầu), dấu hiệu Thổ của Phế vượng (tăng cường Thổ khí chống lại môi trường ẩm thấp, là môi trường tạo nên các tụ cầu khuẩn).
    • Đàm trong, loãng và nhiều dấu hiệu thủy của Phế suy.

2.2.6. Buồn sầu - Lo âu

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : “Chí của Phế là ưu (lo âu)”.
  • Nơi Đồ Thái cực, Thiếu âm Kim khí là trung gian của sự vui mừng quá độ (Thái dương) đã chấm dứt và sự sợ hãi chết chóc (Thái âm) sắp bắt đầu. Giữa 2 trạng thái này, con người đâm ra lo âu, buồn sầu, buồn cho cái vui đã qua và lo cho cái tàn tạ sắp đến.
  • Mùa thu, cây cối thay lá, lúa mùa chín tới chờ gặt... làm cho lòng người cũng vì thế mà buồn.
  • “Ưu thương Phế” (sự lo âu hại Phế): Những nguyên nhân bên ngoài gây sự lo buồn làm Kim khí suy và ngược lại người Kim khí suy thì hay buồn.
  • Để biểu hiện sự buồn rầu về cái chết trong tang chế. Người Á Đông thường dùng tang phục, khăn tang, vải liệm... màu trắng (Sắc trắng là sắc của Kim).

2.3. Về ngoại giới - Kim khí và Táo khí

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : “Táo sinh Kim”.
  • Y Tông Kim Giám : "Trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, ở thể là Bì". Kim khí thông với Phế khí, do đó, các bệnh do Táo khí gây ra đều thuộc về Phế Kim.
  • Triệu chứng của Táo là khô cổ, khát nước, bón, tiểu ít, da khô, tróc vẩy, Tân dịch hao hụt...
  • Thiếu âm ứng với phương Tây, buổi chiều tối, mùa thu là thời điểm Táo khí vượng lên, Kim khí ở người cũng theo đó vượng lên.
  • Người Kim khí suy, sẽ dễ chịu vào buổi chiều tối, mùa Thu (là thời điểm Kim khí vượng) và nặng hơn (khó chịu hơn) vào buổi trưa, mùa hè là thời điểm của Hỏa khí vượng (Hỏa khắc Kim).

Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc

Xem nguyên bài viết tại : Kim khí – Học thuyết ngũ hành

Hỏa khí – Học thuyết ngũ hành

Phương nam, mùa hè, buổi trưa là biểu hiện của Thái dương (theo đồ Thái cực). Tính chất rõ rệt nhất của Thái dương là Nhiệt khí. Ở người được gọi là Hỏa khí. Hỏa khí (hay còn gọi là Nhiệt) là một trong sáu yếu tố vẫn luôn tồn tại bên trong cơ thể, giữ cho cơ thể hoạt động một cách điều hòa. Bên cạnh Hỏa còn có Phong (gió), Thấp (độ ẩm), Táo (độ khô), Hàn (lạnh), Thử (nắng), tất cả gọi chung là Lục Khí (6 thứ Khí).

I. ĐẠI CƯƠNG – HỎA KHÍ

Phương nam, mùa hè, buổi trưa là biểu hiện của Thái dương (theo đồ Thái cực). Tính chất rõ rệt nhất của Thái dương là Nhiệt khí. Ở người được gọi là Hỏa khí.

Theo A. Reinberg, trong "La Nouvelle Presse Médicale" tập 2, số 5, ngày 3-2-1973 thì các cực số liên hệ đến những trường hợp tử vong vì Tim và huyết mạch đều ở trong khoảng tháng tư, năm, sáu (thời điểm của mùa hè) tương ứng của Thái dương, hỏa khí, do đó, mùa hè và Hỏa khí có liên hệ với nhau.

Tạp chí Y học Liên Xô "Kochmicheskaia Biologia I Meditsima" số 1, năm 1972 ghi : " Trong ngày đêm, trên máy ghi biểu đồ tiếng Tim, tính động lực của mạch và phương diện chu kỳ biên độ đạt mức tối đa giữa khoảng 11-13h (giờ Ngọ), giữa trưa, cao điểm của Thái dương, đồng thời là giờ vượng của Tâm kinh), do đó, buổi trưa và Hỏa khí có liên hệ với nhau.

hoa-khi-hoc-thuyet-ngu-hanh

(Biểu tượng Hỏa Khí - Sưu tầm)

II. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA HỎA KHÍ

2.1. Hỏa khí về cơ thể

2.1.1. Lưỡi và vị giác

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Tâm khai khiếu ở lưỡi".
  • Lưỡi thường thường có sắc đỏ, biểu hiện Hỏa khí 1 cách rõ rệt.
  • Lưỡi lở, dộp, nứt nẻ, viêm (sưng)... là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
  • Tùy theo màu sắc của lưỡi, có thể suy ra tình trạng vượng suy ngũ hành của Tâm.
  • Lưỡi hồng nhạt là dấu hiệu Hỏa của Tâm suy.
  • Lưỡi xanh tối là dấu hiệu Mộc của Tâm suy.
  • Lưỡi vàng tối là dấu hiệu Thổ của Tâm suy.
  • Lưỡi đen bẩn là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
  • Miệng có vị đắng (lưỡi đắng) là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
  • Miệng có vị chua là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng.

2.1.2. Mồ hôi

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : "Mồ hôi là dịch của Tâm".
  • Khi trời nóng, lúc bị sốt, thường thấy có hiện tượng xuất mồ hôi, do đó, Hỏa khí và mồ hôi có liên hệ với nhau. Mồ hôi là Thủy dịch dùng để chế ngự Hỏa khí.
  • Sốt mà có mồ hôi là dùng hiệu tốt : Thủy khí còn vững mạnh để chống lại với nhiệt tà.
  • Sốt mà không có mồ hôi là dấu hiệu nhiệt tà mạnh hơn chính khí.
  • Khi bị cảm, sốt nóng, không ra được mồ hôi, người ta dùng nồi xông cho đổ mồ hôi để ức chế nhiệt tà, người ta sẽ bớt sốt.
  • Không nóng sốt mà xuất mồ hôi (Mồ hôi lạnh hay gặp ở những người thần kinh suy nhược) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.
  • Tự ra mồ hôi (tự hãn) hoặc ra mồ hôi ban đêm (mồ hôi trộm, đạo hãn) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

2.2. Hỏa khí về chức năng

2.2.1. Chủ thần minh

  • Thiên “Tuyên Minh Ngũ Khí” (TVấn 23) ghi : "Tâm tàng thần".
  • Thiên “Thiên Niên” (LKhu 54) ghi : "Còn Thần thì sống, mất thần thì chết", tuần hoàn còn thì sống, tuần hoàn ngưng thì chết, do đó Tâm và thần có liên hệ với nhau.
  • Với người bệnh : người có thần, biểu hiện bằng nét mặt tươi sáng, ánh mắt nhanh nhẹn, nói cười đứng đắn, ý tưởng phân minh thì bệnh có chiều hướng tốt, dễ điều trị. Ngược lại, gọi là hiện tượng mất (thất) thần, dấu hiệu của bệnh trầm trọng, nguy hiểm.
  • Tinh thần căng thẳng, thần trí bị xúc động sinh ra hoạt náo, nóng nẩy, hằn học, lăn lộn, mất ngủ, nằm ngồi không yên, kích động, phá phách mọi người chung quanh (điên cuồng).
  • Tâm trí suy nhược, Thần không có chỗ dựa, người bệnh sinh ra ngớ ngẩn, hay quên, lo lắng, hồi hộp, sợ hãi thất thường.
  • Vẫn bác sĩ tại Massachusetts, sau khi nghiên cứu 1.000 người cho thấy; sự căng thẳng tinh thần có thể gây đau tim. Khi thí nghiệm, những người này được gặp những tình trạng nhân tạo tương tự các trường hợp gây sự căng thẳng tinh thần trong đời sống hằng ngày của họ. Điều đáng chú ý là những người này trông có vẻ khỏe mạnh và điềm Tỉnh trong suốt thời gian trắc nghiệm. Nhưng sau đó sự căng thẳng tinh thần đã gây ra 1 số tai nạn trong tim và huyết quản của họ. Một số người tim bắt đầu bơm mạnh hơn và với một số người khác thì tim lại bơm máu ít hơn. Ở một số người, huyết quản nở ra, số khác lại co vào làm tăng huyết áp. Trường hợp nặng hơn, áp huyết lên cao và Tim bơm thêm máu vào nhưng huyết quản lại co lại và trở thành nhỏ hẹp hơn giới hạn sự lưu thông của máu làm tim phải làm việc rất mệt để đẩy máu vào động mạch.

2.2.2. Phát nhiệt

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Phương Nam sinh nhiệt".
  • Viêm nhiệt là dấu hiệu Hỏa vượng.
  • Tùy theo vùng và vị trí phát nhiệt, có thể suy ra dấu hiệu Hỏa vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Tâm là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
    • Sờ đầu mặt, trán, ngực thấy nóng là dấu hiệu Hỏa ở Biểu của Tâm vượng.
    • Nóng trong đầu, cảm thấy nóng trong ngực... như dấu hiệu Hỏa ở lý của Tâm vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Thận (lưng nóng, lòng bàn chân nóng...) là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Can (Mắt sưng đỏ, đau...) là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
    • Phát nhiệt ở vùng Tỳ (Miệng lở, môi nứt...) là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.

2.2.3. Tâm chủ huyết

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Ở thể của Tâm là mạch".
  • Xung huyết liên hệ mật thiết với sự phát nhiệt, do đó, huyết mạch và hỏa khí có liên hệ với nhau.
  • Xung huyết, xuất huyết là dấu hiệu Hỏa khí vượng.
  • Tùy vùng xung huyết hoặc xuất huyết, có thể biết được tình trạng Hỏa khí ở vùng nào gia tăng.
    • Xuất huyết não, đau bưng cả đầu là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
    • Xuất huyết đáy mắt là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
    • Xuất huyết bao tử là dấu hiệu Hỏa của Tỳ vượng.
    • Xuất huyết Phổi là dấu hiệu Hỏa của Phế vượng.
    • Xuất huyết đường tiểu là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng.

2.2.4. Sự vui mừng

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Ở chí của Tâm là vui mừng (Hỷ)".
  • Khi người ta gặp điều gì vui mừng, Hỏa khí bùng lên, da mặt đỏ, hồng, mạch nhảy nhanh hơn, Tim đập mạnh hơn... do đó, sự vui mừng và Hỏa khí có liên hệ với nhau.
  • Sự vui mừng do ngoại giới đưa đến, làm Hỏa khí bùng lên, Tâm khí biến đổi theo 2 giai đoạn :
    • Giai đoạn đầu : Tâm Hỏa vụt mạnh lên, vì bị huy động (cười hả hê, mặt hồng hào hoặc đỏ bừng, tim đập nhanh).
    • Giai đoạn hai : Tâm Hỏa suy yếu, vì bị kích thích, (mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi, lạnh người trụy mạch, tim đập chậm, yếu...
  • Nhiều người bất ngờ trúng số độc đắc, quá vui mừng (Tâm Hỏa bùng lên) có thể ngất hoặc chết (Tâm Hỏa suy).
  • Như vậy có 2 hình thức vui mừng :
    • Vui mừng do ngoại giới đưa đến, làm cho Tâm Hỏa chỉ bùng lên một thời gian rồi bị suy yếu, đó là nguyên nhân lớn lao của sự đau khổ.
    • Vui mừng của những người hiền triết, của các nhà cách mạng là sự vui mừng biết làm chủ được mình, không bị ngoại cảnh chi phối, sự vui mừng làm cho tâm hồn thoải mái, đem lại vui tươi, hạnh phúc.

2.2.5. Tiếng cười

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Tiếng của Tâm là tiếng cười".
  • Trong các buổi tiệc, hoàn cảnh náo nhiệt, vui mừng, hội hè, say sưa, tiếng cười luôn nổi bật.
  • Rượu uống vào, kích thích Hỏa khí làm người ta cười.
  • Nơi người điên dạng hưng phấn, Hỏa khí vượng lên, làm người đó cười luôn miệng.
  • "Tâm tàng thần", nếu Tâm suy kém, không tàng được thần ( Trong trường hợp bệnh về não, bệnh tâm thần) người ta không làm chủ được tiếng cười, có khi mất hẳn nụ cười.
  • Nếu ta thường xuyên có những nụ cười thoải mái, chân thành, ta sẽ luôn vui mừng cường tráng.
  • Theo giáo sư Uphrai, đại học Standford (Mỹ) và các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha, khi cười thoải mái nhất, các cơ ngực khỏe ra, và tim được vận động tốt. Vì thế người ta vẫn thường ví : "Nụ cười là liều thuốc bổ".

2.3. Hỏa khí về Ngoại Giới

2.3.1. Sắc đỏ

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Sắc của Tâm là sắc đỏ".
  • Sắc của các chứng viêm nhiệt, xung huyết là sắc đỏ.
  • Tùy theo vị trí có sắc đỏ, có thể biết được trạng thái viêm nhiệt, xung huyết của các cơ quan tạng phủ tương ứng.
    • Lưỡi đỏ là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.
    • Mắt đỏ là dấu hiệu Hỏa của Can vượng.
  • Giáo sư Halôtunônfat, đại học Abôđôn (Canada) cho biết, trong môi trường có nền là ánh sáng đỏ, nhịp tim và huyết áp người tăng thêm 17%.
  • Bệnh viện Berlin (CHDC Đức) nghiên cứu qua 3.000 người và nhận thầy là những người bệnh về chức năng Tim đều khó chịu với màu đỏ.
  • Mac Luyxiê, nhà tâm lý học Thụy Sĩ cho rằng : người bệnh Tim theo bản năng đã cự tuyệt trước màu đỏ, một màu có tính kích thích, gây nguy hại cho Tim của họ.
  • Da đỏ, biểu hiện Hỏa khí vượng, các dân tộc da đỏ thường biểu hiện Hỏa khí của mình bằng sự vui mừng nhẩy múa, hò hét rất cuồng nhiệt.

2.3.2. Hỏa khí và Nhiệt khí

  • Thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : "Nhiệt sinh Hỏa".
  • Sách Y Tông Kim Giám ghi : "Trên trời là Nhiệt, dưới đất là Hỏa, ở người là Tâm, ở Thể là mạch".
  • Hỏa khí và Nhiệt khí thông với Tâm, do đó, các bệnh về Hỏa khí và nhiệt khí đều liên hệ với Tâm.
  • Hỏa khí ở người là khả năng đề kháng lại với nhiệt khí bên ngoài. Khi gặp Nhiệt khí, Hỏa khí bị kích thích, xung vượng để rồi sau đó bị suy yếu. Nếu Hỏa khí bị xung động thái quá, sẽ suy kiệt 1 cách đột ngột, dễ rơi vào trạng thái mất đề kháng gây ra trúng nắng, say nóng...
  • Hỏa khí ứng với Thái dương, Phương Nam, Mùa hè buổi trưa, nên cũng vượng lên trong không gian và thời gian trên.
  • Ở người Hỏa vượng, bệnh trở nên trầm trọng vào buổi trưa, mùa hè (là thời điểm Hỏa vượng).
  • Với chứng Hỏa suy, bệnh thuyên giảm vào buổi sáng và trưa (thời điểm của Thiếu dương và Thái dương).

III. HỎA KHÍ VÀ TÂN DỊCH THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN – ĐÔNG Y

3.1. Lý giải hiện tượng hỏa khí theo đông y

Trên thực tế, khi sáu thứ khí bên trong bị rối loạn hoặc bên ngoài thiên nhiên tấn công vào thì cơ thể sinh bệnh tật. Hỏa khí là một yếu tố dễ rối loạn nhất. Trong cơ thể luôn có sự chuyển hóa qua lại giữa sáu yếu tố trên. Các yếu tố Phong, Thấp, Táo, Hàn, Thử cũng có thể hóa thành Hỏa. Ngoài ra các tạng phủ, tình chí cũng biến thành hỏa như can hỏa, tâm hỏa, đởm hỏa,…Vì vậy, trong YHCT sẽ phân biệt ra hai loại:

Hỏa Khí do bên ngoài đưa tới gọi là thực Hỏa (thực Nhiệt) và Hỏa Khí do phần âm hư sinh ra gọi là hư Hỏa (hư nhiệt). Chứng hư nhiệt do âm hư sinh nội nhiệt có các biểu hiện đặc trưng như gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, nhức xương, ra mồ hôi trộm…Đây cũng là những triệu chứng điển hình của hội chứng bốc hỏa mà các chị em phụ nữ thường gặp trong thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh.

3.2. Lý giải cơ chế chứng hư nhiệt theo Y Học Cổ Truyền

Cơ chế của chứng hư nhiệt hoàn toàn phù hợp với nguyên nhân gây bốc hỏa theo YHCT. Chứng hư nhiệt do âm hư sinh nội nhiệt và nguyên nhân gây bốc hỏa là do Thận âm suy tổn. Can âm không được nuôi dưỡng (vì Thận thủy sinh Can mộc) dẫn đến Can thận âm hư hoặc Âm hư hỏa vượng khiến âm thủy không thăng lên được để hạ hỏa xuống, hư hỏa sẽ bốc lên gây cảm giác nóng bừng ở mặt, nhức đầu.

Như vậy, bốc hỏa chính là hậu quả của mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Theo YHCT, Tân Dịch là chất nước của cơ thể, chất trong là Tân, chất đục là Dịch. Tân Dịch cũng do chất dinh dưỡng đồ ăn hóa ra, nhờ sự khí hóa của tam tiêu đi vào các tạng phủ, khớp xương, nước bọt, dịch dạ dày,…Tân đi toàn thân, tưới và nuôi dưỡng các tạng phủ, cơ nhục, kinh mạch, da và tạo thành huyết dịch, không ngừng bổ sung nước cho huyết dịch. Dịch bổ sung cho tinh, tủy, làm khớp xương cử động dễ dàng, làm nhuận da lông.

Ở phụ nữ, Thận âm là nguồn gốc của âm dịch (tân dịch) có tác dụng làm nhuận ướt các tạng phủ của cơ thể. Khi Thận âm hư tổn, âm dịch sinh ra không đủ, người bệnh thường gặp các triệu chứng: chóng mặt, ù tai, đau mỏi lưng gối, lòng bàn chân và bàn tay nóng, ra mồ hôi trộm, miệng khô họng khát, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo, da khô sạm, nhanh mãn kinh, âm đạo khô, đau khi giao hợp.

Theo Phan Tâm Đường – Sưu tầm và chọn lọc.

Coi thêm ở : Hỏa khí – Học thuyết ngũ hành

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

Học thuyết ngũ hành

Theo triết học cổ Trung Hoa, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn trải qua năm trạng thái là: Thổ, Kim, Thủy, Mộc và Hoả. Năm trạng thái này gọi là Ngũ hành, chúng là quy ước của người Trung Hoa cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật. Học thuyết Ngũ hành diễn giải sinh học của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản là Tương sinh và Tương khắc.

I. Định nghĩa – Học thuyết Ngũ hành.

Học thuyết Ngũ hành là học thuyết Âm Dương liên hệ cụ thể trong việc quan sát, quy nạp và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên.

Ngũ hành là tên gọi của 5 sự vật : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Các tác giả nước ngoài đã dùng 5 yếu tố vật chất : Kim loại (Kim), Gỗ (Mộc), Nước (Thủy), Lửa (Hỏa) và Đất (Thổ) để giải thích ý nghĩa của Ngũ hành. Cách giải thích này không đủ nói lên toàn bộ ý nghĩa mà người xưa muốn nói về Ngũ hành. Như vậy, có thể hiểu Ngũ hành là 5 tên gọi, 5 khái niệm về triết học thì đúng hơn.

Không rõ tác giả và nguồn gốc của học thuyết Ngũ hành, chỉ biết là Ngũ hành đã có từ thế kỷ XX trước Công nguyên.

Trong sách "Xuân Thu Phồn Lộ" có ghi : "Âm dương sinh Ngũ Hành", như thế Ngũ Hành được xây dựng trên cơ sở học thuyết Âm dương.

Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý các tạng phủ, để:

  • Chẩn đoán bệnh tật
  • Tìm tính năng và tác dụng thuốc
  • Tiến hành công tác bào chế thuốc men.

II. Nội dung của học thuyết Ngũ hành

1. Ngũ hành là gì?

Người xưa thấy có 5 loại vật chính: kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả (lửa), thổ (đất) và đem các hiện tượng trong thiên nhiên và trong cơ thể con người xếp theo 5 loại vật chất trên gọi là ngũ hành. Ngũ hành còn có ý nghĩa nữa là sự vận động, chuyển hoá của các chất trong thiên nhiên và của tạng phủ trong cơ thể.

2. Sự quy nạp vào Ngũ hành trong thiên nhiên và trong cơ thể con người.

 

Hiện tượng Ngũ hành
Mộc Hoả Thổ Kim Thuỷ
Vật chất Gỗ, cây Lửa Đất Kim loại Nước
Màu sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen
Vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn
Mùa Xuân hạ Cuối hạ Thu Đông
Phương Đông nam Trung ương Tây Bắc
Tạng Can Tâm Tỳ Phế Thận
Phủ Đởm Tiểu trường Vị Đại trường Bàng quang
Ngũ thể Cân Mạch Thịt Da lông Xương tuỷ
Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
Tình chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ

3. Ngũ hành và quan hệ với các lĩnh vực khác

Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
Số Hà Đồ 3 2 5 4 1
Cửu Cung 3, 4 9 5, 8, 2 7, 6 1
Thời gian trong ngày Rạng sáng Giữa trưa Chiều Tối Nửa đêm
Năng lượng Nảy sinh Mở rộng Cân bằng Thu nhỏ Bảo tồn
Thời tiết Gió (ấm) Nóng Ôn hòa Sương (mát) Lạnh
Thế đất Dài Nhọn Vuông Tròn Ngoằn ngoèo
Trạng thái Sinh Trưởng Hóa Cấu Tàng
 Vật biểu  Thanh Long  Chu Tước  Kỳ Lân Bạch Hổ Huyền Vũ
 

Bàn tay

Ngón cái ngón trỏ Ngón giữa Ngón áp út Ngón út
Lục dâm (lục tà) Phong Nhiệt Thấp Táo Hàn
Lục phủ Đảm (mật) Tiểu Tràng (ruột non) Vị (dạ dày) Đại Tràng (ruột già) Bàng quang
Ngũ căn Xúc giác, thân Thị giác, Mắt Tai, Thính giác Khứu giác, Mũi Vị giác, lưỡi
Ngũ tân Nước dáy tai Nước mắt Bùn phân Nước mũi Nước dãi
Ngũ Phúc, Đức Thọ: Sống lâu Khang: Khỏe mạnh Ninh: An lành Phú: Giàu có Quý: Danh hiển
 

Ngũ giới

Sát sinh, giết hại Tà dâm, si mê, Nói dối, thêu dệt Trộm cắp, tranh đua Uống rượu, ăn thịt..
Ngũ Thường - Nho giáo Nhân Lễ Tín Nghĩa Trí
Ngũ lực Niệm lực Huệ lực Tín lực Định lực Tấn lực
 

Tháp nhu cầu Maslow

T1: Thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. T5: Nhu cầu thể hiện bản thân, được tôn trọng, tự khẳng định mình, làm việc mình thích. T4: Nhu cầu được quý trọng, kính mến, được tin tưởng T3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc. T2: Nhu cầu an toàn, yên tâm về thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe.
Giọng Ca Nói (la, hét, hô) Bình thường Cười Khóc
Thú nuôi Hổ, Mèo Ngựa Chó, Trâu, Dê Khỉ, Gà Heo
Hoa quả Táo tàu Mận Hạt dẻ Đào
Ngũ cốc Lúa mì Đậu Gạo Ngô Hạt kê
Thập can Giáp, Ất Bính, Đinh Mậu, Kỷ Canh, Tân Nhâm, Quý
Thập nhị chi Dần, Mão Tỵ, Ngọ Thìn, Mùi, Tuất, Sửu Thân, Dậu Hợi, Tý
Âm nhạc Mi Son Đô La
Thiên văn Mộc Tinh (Tuế tinh) Hỏa Tinh (Huỳnh tinh) Thổ Tinh (Trấn tinh) Kim Tinh (Thái Bạch) Thủy Tinh (Thần tinh)
Bát quái Tốn, Chấn Ly Khôn, Cấn Càn, Đoài Khảm
Ngũ uẩn (ngũ ấm) Sắc Uẩn Thức uẩn Hành Uẩn Tưởng Uẩn Thọ Uẩn
Ngũ Nhãn Thiên nhãn Phật nhãn Pháp nhãn Tuệ nhãn Nhục, thường nhãn

4. Các quy luật hoạt động của Ngũ hành

a. Quy luật Ngũ hành tương sinh:

Ngũ hành tương sinh là quan hệ hỗ trợ để sinh trưởng, thúc đẩy nhau cùng phát triển : Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, cứ như vậy mà tái diễn. Mỗi hành đều có 2 mặt tương quan về hành sinh ra nó và hành nó sinh ra. Thí dụ : Đối với hành Mộc, thì Hỏa là hành nó sinh ra và thủy là hành sinh ra nó

Thủy --- Mộc --- Hỏa

(Sinh nó) (Nó sinh)

Suy rộng ra thì : Đối với Mộc, Thủy sinh Mộc, vậy Thủy là Mẹ (Mẫu) còn Mộc là con (tử). Mộc sinh Hỏa thì Mộc là mẹ và Hỏa là con. Cần nhớ quy luật này để áp dụng các nguyên tắc chữa trị : "Hư bổ mẫu và thực tả tử", là 2 nguyên tắc thường được dùng.

Trong cơ thể con người: can mộc sinh tâm hỏa, tâm hỏa sinh tỳ thổ, tỳ thổ sinh phế kim, phế kim sinh thận thủy, thận thủy sinh can mộc

b. Quy luật ngũ hành tương khắc:

Ngũ hành tương khắc là chỉ mối quan hệ lần lượt ức chế lẫn nhau của thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Thứ tự của tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc. Quá trình tương khắc này cũng tuần hoàn không ngừng. Mỗi hành cũng có 2 mặt tương quan về hành khắc được nó và hành nó khắc được.

Cụ thể là, gọi Mộc là Ta thì, Kim khắc Mộc, Kim là cái khắc Ta, Mộc khắc Thổ, Thổ là cái Ta khắc.

Trong cơ thể con người: can mộc khăc tỳ thổ; tỳ thổ khắc thận thủy; thận thủy khắc tâm hỏa; tâm hỏa khắc phế kim; phế kim khắc can mộc

c. Một số quy luật ngũ hành trong điều kiện bất thường hay bệnh lý: 

  • Phản sinh phản khắc: Mộc vượng làm không Thổ suy không sinh được Kim và không khắc được thủy. Vậy Mộc vượng làm Kim suy và Thủy vượng. Nói cách khác, Mộc phản khắc Kim (thay vì Kim khắc Mộc) và Mộc phản sinh Thủy (thay vì Thủy sinh Mộc).
  • Tương thừa: bình thường can mộc khắc tỳ thổ, nếu can khắc tỳ quá mạnh gây các hiện tượng như đau vùng thượng vị (dạ dầy), đi ngoài nhiều lần (ỉa chảy do TK), khi chữa phải chữa bình can (hạ hưng phấn của can) và kiện tỳ (tăng chức năng kiện vận của tỳ).
  • Tương vũ: bình thường tỳ thổ khắc thận thủy, nếu tỳ hư không khăc được thận thủy sẽ gây: ứ nước (bệnh ỉa chảy kéo dài) gây phù dinh dưỡng, khi chữa phải kiện tỳ và lợi niệu (để làm mất phù thũng).
    Quy luật tương sinh tương khắc được biểu diễn bằng sơ đồ sau.

hoc-thuyet-ngu-hanh

III. Học thuyết Ngũ hành và ứng dụng trong Y học

1. Trong quan hệ sinh lý:

STT Hiện tượng Ngũ tạng
Can Tâm Tỳ Phế Thận
1 Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
2 Phủ Đởm Tiểu trường Vị Đại trường Bàng quang
3 Ngũ thể Cân Mạch Thịt (nhục) Da lông Xương tủy
4 Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
5 Tình chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ

2. Trong quan hệ bệnh lý:

STT Nguyên nhân bệnh VD: chứng mất ngủ bênh tại tâm có các nguyên nhân như
Can Tâm Tỳ Phế Thận
Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
1 Chính tà (bệnh nguyên phát) *
2 Hư tà (từ mẹ truyền cho con) *
3 Thực tà ( từ con truyền cho mẹ) *
4 Vị tà (nó bị khắc quá mạnh) *
5 Tặc tà (nó không khắc được) *

3. Chẩn đoán học: 

Căn cứ vào các triệu chứng dấu hiệu của ngũ sắc, ngũ thể, ngũ vị, ngũ quan, ngũ chí để tìm bệnh thuộc tạng phủ có liên quan.

STT Hiện tượng Bệnh thuộc tạng
Can Tâm Tỳ Phế Thận
1 Ngũ sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen
2 Ngũ chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ
3 Ngũ thể Cân Mạch Thịt (nhục) Da lông Xương tủy
4 Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai

a. Đề ra nguyên tắc chữa bệnh: 

Hư thì bổ mẹ, thực thì tả con
Vd: Trong bệnh phế khí hư, phế lao… trong điều trị phải kiện tỳ, vì tỳ thổ sinh phế kim đây chính là con hư bổ mẹ
Trong bệnh cao huyết áp, nguyên nhân do can dương thịnh, phải chữa vào tâm (an thần), vì can mộc sinh tâm hoả đây chính là mẹ thực tả con.

b. Về châm cứu: 

Trong châm cứu người ta tìm ra các loại ngũ du huyệt ngũ du:
Tuỳ vào kinh âm kinh dương mỗi loại huyệt tương ứng với một hành; trong một đường kinh quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương sinh, giữa hai đường kinh âm và dương quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương khắc
Tên các huyệt ngũ du được đặt theo ý nghĩa của kinh khi đi trong đường kinh như dòng nước chảy:

Tên huyệt ngũ du Ý nghĩa của nó
Huyệt hợp Nơi kinh khí đi vào
Huyệt kinh Nơi kinh khí đi qua
Huyệt du Nơi kinh khí dồn lại
Huyệt huỳnh Nơi kinh khí chảy xiết
Huyệt tỉnh Nơi kinh khí đi ra

Dưới đây là sơ đồ sắp xếp các huyệt ngũ du liên quan đến tương sinh và tương khắc của ngũ hành:

Kinh Loại huyệt ngũ du
Tỉnh Huỳnh Du Kinh Hợp
Dương
 
Âm
Kim
 
Mộc
Thuỷ
 
Hoả
Mộc
 
Thổ
Hoả
 
Kim
Thổ
 
Thuỷ

Khi sử dụng huyệt ngũ du để điều trị bệnh, người ta cũng thực hiện theo nguyên tắc hư bổ mẹ và thực tả con ( giảng kỹ tại phần châm cứu).

4. Về sử dụng dược:

a. Sự liên quan giữa vị thuốc, màu sắc thuốc với tạng phủ

Vị thuốc Màu thuốc Tác dụng vào tạng/ phủ
Vị chua Màu xanh Tạng can – đởm
Vị đắng Màu đỏ Tạng tâm / tiểu trường
Vị ngọt Màu vàng Tạng tỳ / vị
Vị cay Màu trắng Tạng phế/ đại trường
 Vị mặn Màu đen Tạng thận / bàng quang

b. Dùng ngũ vị để bào chế làm thay đổi tính dược của các vị thuốc, đưa thuốc vào các tạng theo yêu cầu điều trị:

Thuốc sao với Tác dụng vào tạng
Sao với dấm Thuốc đi vào tạng can
Sao với muối Thuốc đi vào thận
Sao với đường Thuốc đi vào tỳ
Sao với gừng Thuốc đi vào phế

Phan Tâm Đường - Sưu tầm

Xem bài nguyên mẫu tại : Học thuyết ngũ hành

Học thuyết âm dương

Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Các sự vật, hiện tượng đều luôn có mâu thuẫn nhưng lại thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển và tiêu vong từ đó cho ra học thuyết âm dương.

Âm dương trong thực tế hiện đại đã được khái quát hóa để chỉ ra hai mặt đối lập nhau trong một sự vật, một hiện tượng. Từ đó chúng được dùng để điều phối, trấn áp hay hỗ trợ nhau. Như trong đông y chúng được dùng để xem xét sự mất cân bằng giữa các cơ quan để biết tả hay bổ chúng. Trong nhân tướng học chúng được dùng để xem xét một cá nhân thiên về cá tính nóng hay lạnh, để sử dụng nhân lực phù hợp với công việc.

I. Định nghĩa học thuyết âm dương.

Học thuyết âm dương là triết học cổ đại phương đông, nghiên cứu sự vận động và biến hóa không ngừng của vật chất. Học thuyết âm dương giải thích nguyên nhân phát sinh, phát triển và tiêu vong của vạn vật. Nguyên nhân đó là do mối quan hệ giữa âm và dương trong sự vật đó quyết định.

Trong y học, Học thuyết âm dương quán triệt từ đầu đến cuối, từ đơn giản đến phức tạp trong suốt quá trình cấu tạo cơ thể, sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, và các phương pháp chữa bệnh y học cổ truyền (thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…)

II. Các quy luật cơ bản trong thuyết âm dương

1. Âm dương đối lập nhau

Khi quan sát các hiện tượng, luôn thấy từng cặp đối nghịch nhưng gắn bó nhau : Sáng tối - Động tĩnh... Tuy đối nghịch nhưng luôn gắn bó nhau, do đó, đây chỉ là 2 mặt của 1 quá trình thống nhất.

Người xưa đã biểu thị quan niệm trên bằng đồ hình Thái Cực : Một âm (màu đen) và 1 dương (màu đỏ hoặc trắng) trong 1 vòng tròn không bao giờ tách rời nhau. Thiếu 1 trong 2 yếu tố Âm Dương, không thể hình thành sự vật.

Thí dụ : Vấn đề dinh dưỡng trong cơ thể.

Cơ thể cần dinh dưỡng (Âm) và hoạt động (Dương). Muốn có chất dinh dưỡng (Âm), cần tiêu hao 1 số năng lượng (Dương). Ngược lại, để có năng lượng cung cấp cho hoạt động (Dương) cần tiêu hao 1 số chất dinh dưỡng (âm)...

2. Âm dương hỗ căn

Hỗ căn là sự bắt rễ, bám víu với nhau. Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau nhưng âm dương luôn hỗ trợ cho nhau. Mỗi sự vật, hiện tượng đều cần đến cả hai mặt âm dương thì mới có thể tồn tại được và có ý nghĩa.

YHCT cho rằng : Dương sinh bởi Âm, Âm sinh bởi Dương, Dương lẻ loi không sinh ra được, Âm trơ trọi không thể phát triển (cô dương bất sinh, độc âm bất thành).

Thí dụ: Có số âm mới có số dương, có ban đêm mới có ban ngày, có lạnh thì mới có nóng hay ngược lại nếu không có nóng thì sẽ chẳng có khái niệm lạnh. Và hương phấn hay ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não.

3. Âm dương tiêu trưởng

Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương, lớn lên và mất đi rồi lại lớn lên.

Như  hiện tượng bốc hơi nước và mưa. Nước (Âm) bốc hơi lên, gặp khí nóng (Dương) tạo thành mây, là âm tiêu dương trưởng - Mây (Dương) gặp khí lạnh (Âm) hóa thành mưa rơi xuống là dương tiêu âm trưởng.

Trong quá trình vận động, nếu 1 mặt nào đó không ngừng phát triển về phía đối lập thì đến 1 giai đoạn nào đó nhất định sẽ chuyển hoá sang nhau gọi là “dương cực sinh âm, âm cực sinh dương; hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”.

Như trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) có khi gây ảnh hưởng đến phần âm (như mất nước), hoặc bệnh ở phần âm (mất nước, mất điện giải” tới mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến phần dương (như choáng, truỵ mạch gọi là thoát dương).

4. Âm dương bình hành

Bình hành là cùng song song, cùng tồn tại. Do đó tuy âm dương đối lập, vận động không ngừng, nhưng lại luôn giữ được thế quân bình.

Trong thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : “Âm thắng thì Dương bệnh, Dương thắng thì Âm bệnh, dương thắng thì nhiệt, âm thắng thì hàn”. Bất cứ mặt nào của Âm Dương nếu mạnh hơn sẽ gây nên bệnh, do đó Âm Dương phải luôn quân bình nhau.  

III. Các cặp phạm trù thuộc tính âm dương

1. Phạm trù tương đối, tuyệt đối của hai mặt âm dương:

Sự đối lập giữa hai mặt âm dương là tuyệt đối, tuy nhiên trong điều kiện cụ thể nào đó có tính chất tương đối.

Ví dụ như: Nóng là dương nhưng sốt nhẹ là nhiệt, sốt cao là hoả, sốt rất cao là nhiệt quyết; Lạnh là âm, lạnh ít gọi là lương, lạnh nhiều là hàn, lạnh rất nhiều là hàn quyết. Như vậy trong dương hoặc âm cũng có nhiều mức độ không giống nhau.

2. Phạm trù âm dương có trong nhau:

Trong âm có dương và trong dương có âm. Âm và dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ nhau trong sự phát triển. Như sự phân chia thời gian trong một ngày (24 giờ): ban ngày thuộc dương, từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa là phần dương của dương. Từ 12 giờ đến 18 giờ là phần âm của dương; ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ - 24 giờ là phần âm của âm từ 0 giờ đến 6 giờ là phần dương của âm.

3. Phạm trù bản chất và hiện tượng:

Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất bệnh; như  bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.

Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự “thật giả” (chân giả) trên lâm sàng, khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa bệnh đúng nguyên nhân.

Thí dụ:

  • Trong bệnh thương hàn là 1 nhiễm trùng đường tiêu hoá lẽ ra sốt cao thì mạch phải nhanh, nhưng vì nhiễm độc nội độc tố nên mạch chậm, có xu hướng truỵ mạch chân tay lạnh, người lạnh, biểu hiện hiện tượng giống triệu của hàn nhưng bản chất là nhiệt.
  • Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, mất điện giải gây nhiễm độc thần kinh làm co giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc nóng, ấm để chữa nguyên nhân.
  • Người bệnh nhiễm lạnh sau đó phát sốt nóng, biểu hiện là nhiệt mà bản chất là do hàn

Từ các quy luật âm dương và các phạm trù của nó đã mang đến một biểu tượng âm dương được biểu hiện bằng một hình tròn có hai hình cong chia diện tích làm hai phần bằng nhau: một phần là âm, một phần là dương. Trong phần âm có nhân dương và trong phần dương có nhân âm. Tuy vậy 2 hình cong âm dương trong hình tròn này lại chia đều một bên phần đầu to gắn với một phần nhỏ như lý giải rằng âm dương tiêu trưởng liên tục chuyển hóa lẫn nhau. 

hoc-thuyet-am-duong

IV. Phân loại âm dương

1. Cách thức phân loại Âm Dương

Việc phân loại âm dương cho sự vật tương đối khó vì Âm Dương chỉ là 2 đặc tính của mỗi sự vật, đặc tính này không hoàn toàn tuyệt đối vì có những vật tuy là dương nhưng so với cái dương hơn lại hóa ra âm.

Về vật lý:

  • Hình dáng: hình chữ nhật đứng âm hơn so với hình chữ nhật nằm ngang, hình dạng nhỏ hơn dương hơn.
  • Cấu trúc: vật đặc hơn thì dương hơn so với với rỗng hơn;
  • Màu sắc theo Phân Quang đồ : Đỏ, Cam, Vàng, Lục Lam, Chàm Tím . ( Sắp xếp thứ tự từ Dương đến Âm). Các làn sóng ngắn càng Dương toả nhiệt càng nhiều .
  • Trọng lượng: vật có cùng thể tích nhưng tỉ trọng hay trọng lượng nặng hơn thì dương hơn

Vê hoá học:

  • Thành phần K/Na: càng lớn thì càng âm hơn so với vật thể cùng một đằng lượng.
  • Nhiệt độ: Nóng hơn thì dương hơn so với lạnh
  • Thành phần nước chứa bên trong: càng chưá nhiều nước càng âm hơn.

Về định hướng phát triển:

  • Dưới mặt đất: Đâm sâu thẳng xuống lòng đất là Dương, lan rộng ra dưới mặt đất là Âm, thí dụ như củ sắn dây dương hơn so với củ khoai mì
  • Trên mặt đất: càng phát triển xa mặt đất càng âm thí dụ cây dừa âm hơn so với cây đu đủ

Về sinh vật học:

  • Thời gian nấu chín: càng nấu lâu hơn thì càng dương hơn 
  • Thời gian tăng trưởng: cùng trong một thời gian, vật thể tăng trưởng chậm dương hơn so với vật tăng trưởng nhanh hơn.

Về sinh thái học:

  • Khuynh hướng: phát triển trong mùa thu, mùa đông, khí hậu lạnh, độ tăng trường chậm hơn, dương hơn vất thể phát triển vào mùa xuân, mùa hạ, khí hậu ấm hơn, độ tăng trường nhanh hơn.
  • Khí hậu: vật mọc ở xứ lạnh có khuynh hướng dương hơn so vói vật mọc ở xứ nóng hơn, thí dụ trái cây mọc ở vùng hàn đới dương hơn trái cây mọc ở vùng nhiệt đới;

Về sinh hóa học:

  • Phản ứng hóa học: làm cho co rút, teo tóp là dương so với làm cho dãn nở, choáng váng, say thì âm hơn
  • Khuynh hướng phát triển: vật thể càng ly tâm lực chi phối nhiều chừng nào thì càng âm hơn so với vật bị cầu tâm lực chi phối nhiều hơn, thí dụ chuối phân mãnh thành nải thành trái âm hơn so với trái mận;
  • Thời gian tác dụng: sốt cao từ sáng đến trưa dương hơn sốt cao từ chiều đến tối.

Về sinh lý học:

  • Sinh hoạt: hoạt động thì dương hơn so với thụ động
  • Vị trí: Phần  sau đầu là dương, trán và hai thái dương là âm
  • Dưỡng khí ( oxygen ): nhiều là Dương, ít dưỡng khí là Âm
  • Giọng nói: giọng cao to là Dương , giọng lí nhí thấp là Âm
  • Xúc Cảm: Vui là Dương , Sợ là Âm
  • Nhiệt Độ: Nóng là Dương, lạnh là Âm
  • Hơi thở và nhịp đập tim: Nhanh là Dương, Chậm là Âm
  • Tác động: làm cho co rút, teo tóp  là Dương , Làm cho dãn nở , choáng váng, say, là Âm
  • Màu da:  Hồng  là Dương , Nhợt xanh là Âm

2. Bảng quy luật âm dương trong tự nhiên và trong cơ thể

Trong tự nhiên

Âm Đất Trong Lạnh Đêm Mặt trăng Nước Tối…
Dương Trời Ngoài Nóng Ngày Mặt trời Lửa Sáng…

Trong cơ thể con người

Âm Nữ Tạng Kinh âm Tạng hàn Sợ lạnh Huyết Mạch nhâm…
Dương Nam Phủ Kinh dương Tạng nhiệt Sợ nóng Khí Mạch đốc…

V. Ứng dụng của học thuyết Âm dương trong y học

1. Học thuyết âm dương trong cơ thể và sinh lý

Tổng quan Âm dương trong cơ thể và sinh lý:

  • Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, trên …
  • Dương: Phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, dưới …
  • Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương
  • Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên nên ta có bảng sau:
Tạng Âm Dương
Phế Phế âm Phế khí
Thận Thận âm Thận dương
Can Can huyết Can khí
Tâm Tâm huyết Tâm khí
Tỳ Tỳ âm Tỳ dượng

a) Trên là âm, dưới là dương

Theo cách phân chia này thì Đầu là âm và chân là Dương. Thực tế cho thấy, đầu (cụ thể là trán) sờ vào lúc nào cũng thấy mát và chân (dưới) luôn thấy ấm. Khi cơ thể bệnh (có rối loạn thăng bằng âm dương) thì đầu (phía trên) sờ vào thấy nóng (trán nóng, mắt đỏ, mặt đỏ bừng...) thay vì mát, và chân (phía dưới) thấy lạnh (ẩm, ra mồ hôi, đau ê ẩm...) thay vì nóng. Cách chữa bệnh đơn giản nhất là dùng khăn lạnh đắp vào trán (thêm âm vào để đẩy dương ra) hoặc ngâm chân vào nước nóng (thêm dương vào để đẩy âm ra). Cách điều trị trên chủ yếu nhằm thực hiện lại thế quân bình (điều hòa âm dương) đã bị xáo trộn vì bệnh gây ra, vì thế, đã có một nhận xét hết sức lý thú : "Hãy giữ cho đầu bạn mát (âm) và chân bạn luôn ấm (dương) thì bạn sẽ không cần đến thầy thuốc".

Theo các nhà nghiên cứu : Ở tư thế nằm, đầu thấp, chân cao sẽ dễ nhớ và tiếp thu nhanh hơn, họ cho rằng vì máu dồn về não giúp não làm việc tốt hơn. Có thể hiểu như sau : Máu (âm) dồn về đầu (âm) tức tăng thêm âm, giúp cho dễ nhớ hơn. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng ở tư thế này rất dễ buồn ngủ, vì âm mang tính tĩnh.

b) Bên trái là Dương, Bên phải là Âm

Vấn đề quy định bên phải, bên trái thuộc Âm hay Dương, chưa có tài liệu nào nghiên cứu 1 cách sâu xa và giải thích thỏa đáng. Tuy nhiên, dựa vào 1 số công trình nghiên cứu và quan sát tự nhiên, ta thấy :

  • Theo giáo sư Hirasawa, chuyên viên nghiên cứu sinh lý học thể dục Trường đại học bách khoa Tokyo, sau 35 năm chuyên nghiên cứu về bàn chân đã nhận xét rằng : "từ 6-50 tuổi, diện tích tiếp xúc mặt đất của chân trái phái nam và nữ đều lớn hơn so với chân phải và diện tích tiếp xúc với mặt đất khi đứng của bàn chân trái lớn hơn. Thời gian chạm đất khi đi phía bên trái cũng nhiều hơn. Cảm giác ổn định khi đứng 1 chân bằng chân trái cũng tốt hơn. Vết chân người cổ đại cách đây 3000 năm cũng cho thấy vết chân trái in sâu hơn xuống đất hơn là chân phải. Các vận động viên, diễn viên... cũng đều dùng chân trái làm trục chống đỡ cơ thể, còn chân phải dùng để biểu diễn các động tác".
  • Khi khởi động 1 cách tự nhiên, hầu như bao giờ chân trái cũng khởi động trước. Theo các nhà nghiên cứu, khi chuyển động trái đất tạo nên 1 dòng điện gọi là địa từ lực lôi cuốn mọi vật - Địa từ lực này mang đặc tính âm. Theo nguyên tắc vật lý, 2 vật cùng tên đẩy nhau, khác tên hút nhau. Lực của trái đất là âm.
  • Bác sĩ Nogier (tác giả môn châm trị liệu loa tai), khi nghiên cứu về 2 bình tai cũng đã nhận xét : "Với các nhà châm cứu, Nhâm mạch (quản lý các kinh Âm) nằm trên bình tai Phải, của người thuận phải và Đốc mạch (thống xuất các kinh Dương), nằm trên bình tai Trái.
  • Viện vật lý và sinh hóa ở Leningrat (Liên Xô) khi tiến hành thí nghiệm về độ nhạy của tai người đã nhận thấy rằng : tai trái nhạy cảm hơn tai phải.
  • Các vận động viên điền kinh, đua xe, chạy... bao giờ cũng phải rẽ về bên trái.
  • Hình ảnh người chèo đò cho thấy, bao giờ mái chèo cũng nằm bên trái.

Qua các nhận xét trên, tạm thời nêu lên nhận định là bên trái thuộc Dương và bên phải thuộc Âm. Điều này rất có giá trị trong việc điều trị bằng châm cứu khi phải chọn huyệt để châm.

c) Trong (bụng, ngực) là Âm, Ngoài (lưng) là Dương

Thiên “Ngũ Tạng Sinh Thành Luận” (TVấn 10) ghi : “Phù ngôn chi Âm Dương, Nội vi âm, ngoại vi Dương, Phúc vi âm, Bối vi Dương” (Nói về Âm Dương, trong thuộc âm, ngoài thuộc dương, bụng thuộc âm, lưng thuộc dương).

  • Ngay từ trong bào thai, sự sắp xếp theo thứ tự trên cũng khá rõ : Bào thai nam, dương khí tụ ở lưng nên thường quay lưng ra, do đó, bụng người mẹ thường có dạng tròn và cứng. Trái lại, bào thai nữ, âm khí tụ ở ngực nên thường quay mặt ra ngoài, do đó bụng người mẹ thường có dạng hình bầu dục (gáo nước) và mềm.
  • Hình ảnh người chết đuối trên sông cho thấy, xác nam bao giờ cũng nằm sấp vì dương khí tụ ở lưng, còn xác nữ bao giờ cũng nằm ngửa vì âm khí tụ ở ngực.

d) Âm Dương và Tạng Phủ

  • Thiên "Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận" ghi : "Lục phủ giai vi dương, Ngũ tạng giai vi âm" (Lục phủ thuộc dương, Ngũ tạng thuộc âm). Như thế Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận thuộc âm, còn Tiểu Trường, Đởm, Vị, Đại Trường, Bàng quang, Tam Tiêu thuộc dương. Tâm Bào, được coi như 1 tạng mới, do đó thuộc âm.
  • Giáo sư Ohsawa (tác giả phương pháp dưỡng sinh, người Nhật), trong sách "Phương Pháp Dưỡng sinh", lại có 1 số nhận xét hơi khác trong việc phân chia Tạng phủ và Âm Dương. Theo đó, Tâm, Can, Thận thuộc dương (thay vì thuộc âm) còn Phế, Vị thuộc âm. Ohsawa cho rằng Tim, Gan và Thận có hình dáng đặc và nặng nên thuộc dương, còn Phổi và Dạ dầy rỗng, nhẹ nên thuộc âm.

Có gì mâu thuẫn giữa 2 quan điểm phân chia Âm Dương giữa sách Nội Kinh và Ohsawa không " Sách Nội Kinh là sách kinh điển, tích chứa kinh nghiệm bao đời của người xưa, Gs. Ohsawa là nhà nghiên cứu có tiếng trên thế giới, như vậy cả 2 quan điểm đều có lý do của nó.

Có thể tạm hiểu như sau : Theo "Kinh Dịch", mỗi vật thể, hiện tượng... đều do 2 yếu tố : THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên. Một vật nào đó, có thể có hình dạng (thể) là âm nhưng lại có công dụng là dương hoặc ngược lại, Thể là dương nhưng Dụng là âm.

Thí dụ : Tạng Tâm, xét về hình thể là 1 quả tim, đặc nặng, nên mang đặc tính dương tức là dương về Thể, nhưng Tâm lại có nhiệm vụ cung cấp máu cho toàn cơ thể, máu thuộc âm, do đó Tâm mang đặc tính âm xét về Dụng.

Thí dụ : Quả Ớt, xét về hình thể, quả ớt có màu đỏ, do đó thuộc dương, nhưng ớt có vị cay, khi vào ruột, làm nở các mao trạng ruột, tiêu thức ăn nhanh, như vậy, ớt có đặc tính âm nếu xét về công dụng.

2. Bản chất của quá trình sinh và phát triển của bệnh theo âm dương.

Bản chất của bệnh là do sự mất thăng bằng giữa phần âm và phần dương của cơ thể

  • Phần âm thiên thắng gây âm thịnh, thừa phần âm nên gây chứng lạnh bên trong, gọi là nội hàn. Biểu hiện ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý thuộc hàn mạch trầm và trì, có lực. Thuốc phải nóng tán được nội hàn như Thảo quả, can khương, ngô thù du, quế nhục, phụ tử chế, hạt xuyên tiêu…
  • Phần âm suy hư, thiếu phần âm nên phần dương trội 1 cách tương đối gây chứng nóng từ bên trong gọi là âm hư sinh nội nhiệt. Biểu hiện như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu vàng hoặc đỏ sẻn, nóng từ trong ngực bụng, lòng bàn chân tay nóng, quạt mát, tắm nước lạnh không hết nóng. Mạch tế sác, lực mạc kém. Thuốc phải bổ vào phần âm bị thiếu hụt, đó là những vị thuốc bổ âm thuộc lại âm dược như Thục địa, hoàng tinh, thạch hộc, kỷ tử, mạch môn, thiên môn…
  • Phần dương thiên thắng gây dương thịnh, thừa phần dương gây sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ, ấm thắng gây chứng hán: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trậm, ỉa lỏng nước tiểu trong v.v… Thuốc phải mát lạnh để loại bỏ phần dương bị thừa để âm dương về trạng thái cân bằng: Thuốc Tả hỏa thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, cốc tinh thảo, hạt muồng, tri mẫu, mật gấu…
  • Phần dương hư suy, thiếu phần dương gây ngoại hàn, sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bị giảm sút đái đêm nhiều lần, di tinh liệt dương…Thuốc phải bổ vào phần dương bị thiếu hụt như đỗ trọng, cẩu tích, cốt toái bổ, ích trí nhân, ba kích, dâm dương hoắc, phụ tử chế, phá cố chỉ, nhục thung dung…
  • Âm dương lưỡng hư là trường hợp suy giảm cả phần âm lẫn phần dương chỉ gặp ở người có tuổi, cao tuổi với biểu hiện cả âm hư lẫn dương hư, thuốc dùng cả 2 loại bổ âm và bổ dương.

3. Chữa bệnh theo học thuyết âm dương

a) Học thuyết Âm dương chuẩn đoán bệnh

  •  Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn) sờ nắm, xem mạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.
  • Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm.

Vắn tắt: Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật được quy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc v.v…

b) Chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh.

Chữa bệnh theo học thuyết Âm dương là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm lượng của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…

Đối với phương pháp châm cứu:

  • Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.
  • Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) thì dùng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương); bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.

4. Thuốc và cách sử dụng thuốc theo học thuyết Âm dương

a) Cách sử dụng thuốc theo học thuyết Âm dương

Nguyên tắc dùng thuốc theo âm dương: Bệnh có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó là thuốc có tính hàn và ngược lại. Tùy theo mức độ nhiệt, hàn mà dùng thuốc hàn, nhiệt mạnh hay yếu, liều ít hay nhiều ví dụ :

 Chứng thực nhiệt

  • Huyết nhiệt: Mụn nhọt tái phát nhiều lần do huyết nhiệt chỉ cần dùng những thuốc mát để lương huyết như sinh địa, rễ cỏ tranh, huyền sâm, đan bì, xích thược dược, thổ phục linh…kết hợp thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, quán chúng, lá chàm…Đây là những thuốc tính hàn nhẹ.
  • Thấp nhiệt:Viêm gan siêu vi trùng, viêm phần phụ, viêm âm hộ, âm đạo, nội mạc tử cung, viêm đài thận, bể thận do sỏi, viêm bàng quang, niệu đạo, viêm tinh hoàn, viêm ruột mạn tính…Thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục. Đây là chứng bệnh do thấp nhiệt, tuy bệnh dai dẳng nhưng mức nhiệt không cao nên chỉ dùng thanh nhiệt trừ thấp: Nhân trần, long đởm thảo, nha đảm tử, hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, rễ chàm, dây hạt bí, ý dĩ nhân, rau sam…
  • Hỏa nhiệt:Sốt cao co giật mức nhiệt mạnh, cần hạ sốt ngay, dùng thuốc hàn mạnh, liều cao như thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, hạt muồng sống, tri mẫu, mật gấu, cốc tinh thảo, hạ khô thảo…
  • Thử nhiệt: Là say nóng, say nắng, choáng váng khi làm việc trong lò nhiệt như lò rèn, lò luyện gang thép…Dùng thuốc mát để thanh nhiệt giải thử như lá sen, đậu ván, quả dưa hấu…
  • Nhiệt độc: do nhiễm trùng bởi vi trùng, vi rút dùng thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, sài đất, rẻ quạt, lá dấp cá…

Chứng hư nhiệt

  • Âm hư sinh nội nhiệt, nóng trong, sốt thấp 37,5 độ - 38 độ về buổi chiều đêm, ngũ tâm phiền nhiệt, bức bối, môi khô, đỏ… dùng các thuốc bổ âm như Thục địa, mạch môn, thiên môn, thạch hộc, kỷ tử, lá dâu non, hoàng tinh… trong vài ba tuần sẽ hết sốt.
  • Nội nhiệt do thận âm hư hoặc vị âm hư,can âm hư, phế âm hư, tâm âm hư, tỳ âm hư, thông thường nhất là thận âm, vị âm, phế âm hư.

Chứng thực hàn

  • Hàn từ ngoài thiên nhiên xâm nhập vào cơ thể gây lạnh, sợ lạnh, rét run, đau họng, không ra mồ hôi, thậm chí sau đó phát sốt nóng nhưng vẫn sợ lạnh thì dùng thuốc chữa phong hàn, vì loại hàn này là biểu hàn.
  • Hàn thịnh tự trong cơ thể hoặc phục hàn từ trước là lý hàn, thường gặp nhất ở trung tiêu như đau dạ dày-tá tràng vào mùa đông, cơn co thắt đại tràng do lạnh, dùng các thuốc ấm, nóng như phụ tử chế, quế nhục, thảo quả, đại hồi, ngô thù du, càn khương, cao lương khương..
  • Hàn quyết: Do mất dương khí đột ngột, cảm lạnh đột ngột, tự nhiên người lạnh toát, mặt trắng bệch, chân tay giá lạnh, có thể vã mồ hôi loãng lạnh đầm đìa…Phải dùng thuốc nhiệt mạnh, tác dụng nhanh để hồi dương cứu thoát: Phụ tử chế, cồn gừng, cồn quế, ngô thù du, dầu hồi vừa uóng vừa xoa xát mạnh…

Chứng hư hàn

Chứng hư hàn là do phần dương trong cơ thể suy giảm nên khi chữa chủ yếu bổ dương. Tùy theo mà có thể gặp các trường hợp sau:

  • Tâm dương hư sinh tâm hàn trong cơn đau thắt ngực của thiếu máu cơ tim do lạnh
  • Tỳ dương hư sinh chứng ỉa chảy khi lạnh bụng, khi gặp thức ăn sống lạnh, viêm đại tràng mạn tính thể hàn phân sột sệt như phân vịt.
  • Thận dương hư: Lạnh thắt lưng, đái đêm nhiều lần, liệt dục, đau mỏi lưng gối, ù tai…

b) Cách bào chế thuốc theo học thuyết Âm dương

Trong diễn biến bệnh muôn hình vạn trạng phức tạp có những vị thuốc phải được bào chế lại để hạn chế tính âm, hoặc tính dương hoặc những vị thuốc tính âm dương không rõ phải dùng trong bệnh biểu hiện âm, dương rõ ràng thì cần tăng tính âm hoặc tính của chúng.

  • Giảm tính hưng phấn của phụ tử bằng cách ngâm vào nước ót, giảm tính thăng khai của xương bồ bằng ngâm nước gạo, nói chung muốn giảm tính dương, tăng tính âm nên phơi sương đêm.
  • Muốn tăng tinh dương có thể tẩm mỡ dê, tẩm gừng, sa nhân…ví dụ dâm dương hoắc tẩm mỡ dê nướng.
  • Giảm tính âm bào đun nấu nhiều lần như sinh địa tẩm gừng và sa nhân đun 9 lần, phơi nắng 9 lần thành thục địa gọi là cửu chứng cửu sái.
  • Tăng tính âm của dược liệu thì ngày hạ thổ, đêm phơi sương … như tụy lợn khi dùng chữa đái dường.
  • Có những thuốc như tỳ giải, ý dĩ nhân, dây đau xương… tính âm dương không rõ, tùy mục đích sử dụng mà ta có cách bào chế khác nhau.

Tham khảo bài viết gốc ở : Học thuyết âm dương