Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

Học thuyết ngũ hành

Theo triết học cổ Trung Hoa, tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn trải qua năm trạng thái là: Thổ, Kim, Thủy, Mộc và Hoả. Năm trạng thái này gọi là Ngũ hành, chúng là quy ước của người Trung Hoa cổ đại để xem xét mối tương tác và quan hệ của vạn vật. Học thuyết Ngũ hành diễn giải sinh học của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản là Tương sinh và Tương khắc.

I. Định nghĩa – Học thuyết Ngũ hành.

Học thuyết Ngũ hành là học thuyết Âm Dương liên hệ cụ thể trong việc quan sát, quy nạp và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên.

Ngũ hành là tên gọi của 5 sự vật : Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Các tác giả nước ngoài đã dùng 5 yếu tố vật chất : Kim loại (Kim), Gỗ (Mộc), Nước (Thủy), Lửa (Hỏa) và Đất (Thổ) để giải thích ý nghĩa của Ngũ hành. Cách giải thích này không đủ nói lên toàn bộ ý nghĩa mà người xưa muốn nói về Ngũ hành. Như vậy, có thể hiểu Ngũ hành là 5 tên gọi, 5 khái niệm về triết học thì đúng hơn.

Không rõ tác giả và nguồn gốc của học thuyết Ngũ hành, chỉ biết là Ngũ hành đã có từ thế kỷ XX trước Công nguyên.

Trong sách "Xuân Thu Phồn Lộ" có ghi : "Âm dương sinh Ngũ Hành", như thế Ngũ Hành được xây dựng trên cơ sở học thuyết Âm dương.

Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý các tạng phủ, để:

  • Chẩn đoán bệnh tật
  • Tìm tính năng và tác dụng thuốc
  • Tiến hành công tác bào chế thuốc men.

II. Nội dung của học thuyết Ngũ hành

1. Ngũ hành là gì?

Người xưa thấy có 5 loại vật chính: kim (kim loại), mộc (gỗ), thuỷ (nước), hoả (lửa), thổ (đất) và đem các hiện tượng trong thiên nhiên và trong cơ thể con người xếp theo 5 loại vật chất trên gọi là ngũ hành. Ngũ hành còn có ý nghĩa nữa là sự vận động, chuyển hoá của các chất trong thiên nhiên và của tạng phủ trong cơ thể.

2. Sự quy nạp vào Ngũ hành trong thiên nhiên và trong cơ thể con người.

 

Hiện tượng Ngũ hành
Mộc Hoả Thổ Kim Thuỷ
Vật chất Gỗ, cây Lửa Đất Kim loại Nước
Màu sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen
Vị Chua Đắng Ngọt Cay Mặn
Mùa Xuân hạ Cuối hạ Thu Đông
Phương Đông nam Trung ương Tây Bắc
Tạng Can Tâm Tỳ Phế Thận
Phủ Đởm Tiểu trường Vị Đại trường Bàng quang
Ngũ thể Cân Mạch Thịt Da lông Xương tuỷ
Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
Tình chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ

3. Ngũ hành và quan hệ với các lĩnh vực khác

Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
Số Hà Đồ 3 2 5 4 1
Cửu Cung 3, 4 9 5, 8, 2 7, 6 1
Thời gian trong ngày Rạng sáng Giữa trưa Chiều Tối Nửa đêm
Năng lượng Nảy sinh Mở rộng Cân bằng Thu nhỏ Bảo tồn
Thời tiết Gió (ấm) Nóng Ôn hòa Sương (mát) Lạnh
Thế đất Dài Nhọn Vuông Tròn Ngoằn ngoèo
Trạng thái Sinh Trưởng Hóa Cấu Tàng
 Vật biểu  Thanh Long  Chu Tước  Kỳ Lân Bạch Hổ Huyền Vũ
 

Bàn tay

Ngón cái ngón trỏ Ngón giữa Ngón áp út Ngón út
Lục dâm (lục tà) Phong Nhiệt Thấp Táo Hàn
Lục phủ Đảm (mật) Tiểu Tràng (ruột non) Vị (dạ dày) Đại Tràng (ruột già) Bàng quang
Ngũ căn Xúc giác, thân Thị giác, Mắt Tai, Thính giác Khứu giác, Mũi Vị giác, lưỡi
Ngũ tân Nước dáy tai Nước mắt Bùn phân Nước mũi Nước dãi
Ngũ Phúc, Đức Thọ: Sống lâu Khang: Khỏe mạnh Ninh: An lành Phú: Giàu có Quý: Danh hiển
 

Ngũ giới

Sát sinh, giết hại Tà dâm, si mê, Nói dối, thêu dệt Trộm cắp, tranh đua Uống rượu, ăn thịt..
Ngũ Thường - Nho giáo Nhân Lễ Tín Nghĩa Trí
Ngũ lực Niệm lực Huệ lực Tín lực Định lực Tấn lực
 

Tháp nhu cầu Maslow

T1: Thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi. T5: Nhu cầu thể hiện bản thân, được tôn trọng, tự khẳng định mình, làm việc mình thích. T4: Nhu cầu được quý trọng, kính mến, được tin tưởng T3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc. T2: Nhu cầu an toàn, yên tâm về thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe.
Giọng Ca Nói (la, hét, hô) Bình thường Cười Khóc
Thú nuôi Hổ, Mèo Ngựa Chó, Trâu, Dê Khỉ, Gà Heo
Hoa quả Táo tàu Mận Hạt dẻ Đào
Ngũ cốc Lúa mì Đậu Gạo Ngô Hạt kê
Thập can Giáp, Ất Bính, Đinh Mậu, Kỷ Canh, Tân Nhâm, Quý
Thập nhị chi Dần, Mão Tỵ, Ngọ Thìn, Mùi, Tuất, Sửu Thân, Dậu Hợi, Tý
Âm nhạc Mi Son Đô La
Thiên văn Mộc Tinh (Tuế tinh) Hỏa Tinh (Huỳnh tinh) Thổ Tinh (Trấn tinh) Kim Tinh (Thái Bạch) Thủy Tinh (Thần tinh)
Bát quái Tốn, Chấn Ly Khôn, Cấn Càn, Đoài Khảm
Ngũ uẩn (ngũ ấm) Sắc Uẩn Thức uẩn Hành Uẩn Tưởng Uẩn Thọ Uẩn
Ngũ Nhãn Thiên nhãn Phật nhãn Pháp nhãn Tuệ nhãn Nhục, thường nhãn

4. Các quy luật hoạt động của Ngũ hành

a. Quy luật Ngũ hành tương sinh:

Ngũ hành tương sinh là quan hệ hỗ trợ để sinh trưởng, thúc đẩy nhau cùng phát triển : Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, cứ như vậy mà tái diễn. Mỗi hành đều có 2 mặt tương quan về hành sinh ra nó và hành nó sinh ra. Thí dụ : Đối với hành Mộc, thì Hỏa là hành nó sinh ra và thủy là hành sinh ra nó

Thủy --- Mộc --- Hỏa

(Sinh nó) (Nó sinh)

Suy rộng ra thì : Đối với Mộc, Thủy sinh Mộc, vậy Thủy là Mẹ (Mẫu) còn Mộc là con (tử). Mộc sinh Hỏa thì Mộc là mẹ và Hỏa là con. Cần nhớ quy luật này để áp dụng các nguyên tắc chữa trị : "Hư bổ mẫu và thực tả tử", là 2 nguyên tắc thường được dùng.

Trong cơ thể con người: can mộc sinh tâm hỏa, tâm hỏa sinh tỳ thổ, tỳ thổ sinh phế kim, phế kim sinh thận thủy, thận thủy sinh can mộc

b. Quy luật ngũ hành tương khắc:

Ngũ hành tương khắc là chỉ mối quan hệ lần lượt ức chế lẫn nhau của thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Thứ tự của tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc. Quá trình tương khắc này cũng tuần hoàn không ngừng. Mỗi hành cũng có 2 mặt tương quan về hành khắc được nó và hành nó khắc được.

Cụ thể là, gọi Mộc là Ta thì, Kim khắc Mộc, Kim là cái khắc Ta, Mộc khắc Thổ, Thổ là cái Ta khắc.

Trong cơ thể con người: can mộc khăc tỳ thổ; tỳ thổ khắc thận thủy; thận thủy khắc tâm hỏa; tâm hỏa khắc phế kim; phế kim khắc can mộc

c. Một số quy luật ngũ hành trong điều kiện bất thường hay bệnh lý: 

  • Phản sinh phản khắc: Mộc vượng làm không Thổ suy không sinh được Kim và không khắc được thủy. Vậy Mộc vượng làm Kim suy và Thủy vượng. Nói cách khác, Mộc phản khắc Kim (thay vì Kim khắc Mộc) và Mộc phản sinh Thủy (thay vì Thủy sinh Mộc).
  • Tương thừa: bình thường can mộc khắc tỳ thổ, nếu can khắc tỳ quá mạnh gây các hiện tượng như đau vùng thượng vị (dạ dầy), đi ngoài nhiều lần (ỉa chảy do TK), khi chữa phải chữa bình can (hạ hưng phấn của can) và kiện tỳ (tăng chức năng kiện vận của tỳ).
  • Tương vũ: bình thường tỳ thổ khắc thận thủy, nếu tỳ hư không khăc được thận thủy sẽ gây: ứ nước (bệnh ỉa chảy kéo dài) gây phù dinh dưỡng, khi chữa phải kiện tỳ và lợi niệu (để làm mất phù thũng).
    Quy luật tương sinh tương khắc được biểu diễn bằng sơ đồ sau.

hoc-thuyet-ngu-hanh

III. Học thuyết Ngũ hành và ứng dụng trong Y học

1. Trong quan hệ sinh lý:

STT Hiện tượng Ngũ tạng
Can Tâm Tỳ Phế Thận
1 Ngũ hành Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
2 Phủ Đởm Tiểu trường Vị Đại trường Bàng quang
3 Ngũ thể Cân Mạch Thịt (nhục) Da lông Xương tủy
4 Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai
5 Tình chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ

2. Trong quan hệ bệnh lý:

STT Nguyên nhân bệnh VD: chứng mất ngủ bênh tại tâm có các nguyên nhân như
Can Tâm Tỳ Phế Thận
Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy
1 Chính tà (bệnh nguyên phát) *
2 Hư tà (từ mẹ truyền cho con) *
3 Thực tà ( từ con truyền cho mẹ) *
4 Vị tà (nó bị khắc quá mạnh) *
5 Tặc tà (nó không khắc được) *

3. Chẩn đoán học: 

Căn cứ vào các triệu chứng dấu hiệu của ngũ sắc, ngũ thể, ngũ vị, ngũ quan, ngũ chí để tìm bệnh thuộc tạng phủ có liên quan.

STT Hiện tượng Bệnh thuộc tạng
Can Tâm Tỳ Phế Thận
1 Ngũ sắc Xanh Đỏ Vàng Trắng Đen
2 Ngũ chí Giận Mừng Lo Buồn Sợ
3 Ngũ thể Cân Mạch Thịt (nhục) Da lông Xương tủy
4 Ngũ quan Mắt Lưỡi Miệng Mũi Tai

a. Đề ra nguyên tắc chữa bệnh: 

Hư thì bổ mẹ, thực thì tả con
Vd: Trong bệnh phế khí hư, phế lao… trong điều trị phải kiện tỳ, vì tỳ thổ sinh phế kim đây chính là con hư bổ mẹ
Trong bệnh cao huyết áp, nguyên nhân do can dương thịnh, phải chữa vào tâm (an thần), vì can mộc sinh tâm hoả đây chính là mẹ thực tả con.

b. Về châm cứu: 

Trong châm cứu người ta tìm ra các loại ngũ du huyệt ngũ du:
Tuỳ vào kinh âm kinh dương mỗi loại huyệt tương ứng với một hành; trong một đường kinh quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương sinh, giữa hai đường kinh âm và dương quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương khắc
Tên các huyệt ngũ du được đặt theo ý nghĩa của kinh khi đi trong đường kinh như dòng nước chảy:

Tên huyệt ngũ du Ý nghĩa của nó
Huyệt hợp Nơi kinh khí đi vào
Huyệt kinh Nơi kinh khí đi qua
Huyệt du Nơi kinh khí dồn lại
Huyệt huỳnh Nơi kinh khí chảy xiết
Huyệt tỉnh Nơi kinh khí đi ra

Dưới đây là sơ đồ sắp xếp các huyệt ngũ du liên quan đến tương sinh và tương khắc của ngũ hành:

Kinh Loại huyệt ngũ du
Tỉnh Huỳnh Du Kinh Hợp
Dương
 
Âm
Kim
 
Mộc
Thuỷ
 
Hoả
Mộc
 
Thổ
Hoả
 
Kim
Thổ
 
Thuỷ

Khi sử dụng huyệt ngũ du để điều trị bệnh, người ta cũng thực hiện theo nguyên tắc hư bổ mẹ và thực tả con ( giảng kỹ tại phần châm cứu).

4. Về sử dụng dược:

a. Sự liên quan giữa vị thuốc, màu sắc thuốc với tạng phủ

Vị thuốc Màu thuốc Tác dụng vào tạng/ phủ
Vị chua Màu xanh Tạng can – đởm
Vị đắng Màu đỏ Tạng tâm / tiểu trường
Vị ngọt Màu vàng Tạng tỳ / vị
Vị cay Màu trắng Tạng phế/ đại trường
 Vị mặn Màu đen Tạng thận / bàng quang

b. Dùng ngũ vị để bào chế làm thay đổi tính dược của các vị thuốc, đưa thuốc vào các tạng theo yêu cầu điều trị:

Thuốc sao với Tác dụng vào tạng
Sao với dấm Thuốc đi vào tạng can
Sao với muối Thuốc đi vào thận
Sao với đường Thuốc đi vào tỳ
Sao với gừng Thuốc đi vào phế

Phan Tâm Đường - Sưu tầm

Xem bài nguyên mẫu tại : Học thuyết ngũ hành

Học thuyết âm dương

Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Các sự vật, hiện tượng đều luôn có mâu thuẫn nhưng lại thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển và tiêu vong từ đó cho ra học thuyết âm dương.

Âm dương trong thực tế hiện đại đã được khái quát hóa để chỉ ra hai mặt đối lập nhau trong một sự vật, một hiện tượng. Từ đó chúng được dùng để điều phối, trấn áp hay hỗ trợ nhau. Như trong đông y chúng được dùng để xem xét sự mất cân bằng giữa các cơ quan để biết tả hay bổ chúng. Trong nhân tướng học chúng được dùng để xem xét một cá nhân thiên về cá tính nóng hay lạnh, để sử dụng nhân lực phù hợp với công việc.

I. Định nghĩa học thuyết âm dương.

Học thuyết âm dương là triết học cổ đại phương đông, nghiên cứu sự vận động và biến hóa không ngừng của vật chất. Học thuyết âm dương giải thích nguyên nhân phát sinh, phát triển và tiêu vong của vạn vật. Nguyên nhân đó là do mối quan hệ giữa âm và dương trong sự vật đó quyết định.

Trong y học, Học thuyết âm dương quán triệt từ đầu đến cuối, từ đơn giản đến phức tạp trong suốt quá trình cấu tạo cơ thể, sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, và các phương pháp chữa bệnh y học cổ truyền (thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…)

II. Các quy luật cơ bản trong thuyết âm dương

1. Âm dương đối lập nhau

Khi quan sát các hiện tượng, luôn thấy từng cặp đối nghịch nhưng gắn bó nhau : Sáng tối - Động tĩnh... Tuy đối nghịch nhưng luôn gắn bó nhau, do đó, đây chỉ là 2 mặt của 1 quá trình thống nhất.

Người xưa đã biểu thị quan niệm trên bằng đồ hình Thái Cực : Một âm (màu đen) và 1 dương (màu đỏ hoặc trắng) trong 1 vòng tròn không bao giờ tách rời nhau. Thiếu 1 trong 2 yếu tố Âm Dương, không thể hình thành sự vật.

Thí dụ : Vấn đề dinh dưỡng trong cơ thể.

Cơ thể cần dinh dưỡng (Âm) và hoạt động (Dương). Muốn có chất dinh dưỡng (Âm), cần tiêu hao 1 số năng lượng (Dương). Ngược lại, để có năng lượng cung cấp cho hoạt động (Dương) cần tiêu hao 1 số chất dinh dưỡng (âm)...

2. Âm dương hỗ căn

Hỗ căn là sự bắt rễ, bám víu với nhau. Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau nhưng âm dương luôn hỗ trợ cho nhau. Mỗi sự vật, hiện tượng đều cần đến cả hai mặt âm dương thì mới có thể tồn tại được và có ý nghĩa.

YHCT cho rằng : Dương sinh bởi Âm, Âm sinh bởi Dương, Dương lẻ loi không sinh ra được, Âm trơ trọi không thể phát triển (cô dương bất sinh, độc âm bất thành).

Thí dụ: Có số âm mới có số dương, có ban đêm mới có ban ngày, có lạnh thì mới có nóng hay ngược lại nếu không có nóng thì sẽ chẳng có khái niệm lạnh. Và hương phấn hay ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não.

3. Âm dương tiêu trưởng

Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương, lớn lên và mất đi rồi lại lớn lên.

Như  hiện tượng bốc hơi nước và mưa. Nước (Âm) bốc hơi lên, gặp khí nóng (Dương) tạo thành mây, là âm tiêu dương trưởng - Mây (Dương) gặp khí lạnh (Âm) hóa thành mưa rơi xuống là dương tiêu âm trưởng.

Trong quá trình vận động, nếu 1 mặt nào đó không ngừng phát triển về phía đối lập thì đến 1 giai đoạn nào đó nhất định sẽ chuyển hoá sang nhau gọi là “dương cực sinh âm, âm cực sinh dương; hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”.

Như trong quá trình phát triển của bệnh tật, bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) có khi gây ảnh hưởng đến phần âm (như mất nước), hoặc bệnh ở phần âm (mất nước, mất điện giải” tới mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến phần dương (như choáng, truỵ mạch gọi là thoát dương).

4. Âm dương bình hành

Bình hành là cùng song song, cùng tồn tại. Do đó tuy âm dương đối lập, vận động không ngừng, nhưng lại luôn giữ được thế quân bình.

Trong thiên “Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” (TVấn 5) ghi : “Âm thắng thì Dương bệnh, Dương thắng thì Âm bệnh, dương thắng thì nhiệt, âm thắng thì hàn”. Bất cứ mặt nào của Âm Dương nếu mạnh hơn sẽ gây nên bệnh, do đó Âm Dương phải luôn quân bình nhau.  

III. Các cặp phạm trù thuộc tính âm dương

1. Phạm trù tương đối, tuyệt đối của hai mặt âm dương:

Sự đối lập giữa hai mặt âm dương là tuyệt đối, tuy nhiên trong điều kiện cụ thể nào đó có tính chất tương đối.

Ví dụ như: Nóng là dương nhưng sốt nhẹ là nhiệt, sốt cao là hoả, sốt rất cao là nhiệt quyết; Lạnh là âm, lạnh ít gọi là lương, lạnh nhiều là hàn, lạnh rất nhiều là hàn quyết. Như vậy trong dương hoặc âm cũng có nhiều mức độ không giống nhau.

2. Phạm trù âm dương có trong nhau:

Trong âm có dương và trong dương có âm. Âm và dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại, có khi xen kẽ nhau trong sự phát triển. Như sự phân chia thời gian trong một ngày (24 giờ): ban ngày thuộc dương, từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa là phần dương của dương. Từ 12 giờ đến 18 giờ là phần âm của dương; ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ - 24 giờ là phần âm của âm từ 0 giờ đến 6 giờ là phần dương của âm.

3. Phạm trù bản chất và hiện tượng:

Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất bệnh; như  bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.

Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự “thật giả” (chân giả) trên lâm sàng, khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa bệnh đúng nguyên nhân.

Thí dụ:

  • Trong bệnh thương hàn là 1 nhiễm trùng đường tiêu hoá lẽ ra sốt cao thì mạch phải nhanh, nhưng vì nhiễm độc nội độc tố nên mạch chậm, có xu hướng truỵ mạch chân tay lạnh, người lạnh, biểu hiện hiện tượng giống triệu của hàn nhưng bản chất là nhiệt.
  • Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, mất điện giải gây nhiễm độc thần kinh làm co giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc nóng, ấm để chữa nguyên nhân.
  • Người bệnh nhiễm lạnh sau đó phát sốt nóng, biểu hiện là nhiệt mà bản chất là do hàn

Từ các quy luật âm dương và các phạm trù của nó đã mang đến một biểu tượng âm dương được biểu hiện bằng một hình tròn có hai hình cong chia diện tích làm hai phần bằng nhau: một phần là âm, một phần là dương. Trong phần âm có nhân dương và trong phần dương có nhân âm. Tuy vậy 2 hình cong âm dương trong hình tròn này lại chia đều một bên phần đầu to gắn với một phần nhỏ như lý giải rằng âm dương tiêu trưởng liên tục chuyển hóa lẫn nhau. 

hoc-thuyet-am-duong

IV. Phân loại âm dương

1. Cách thức phân loại Âm Dương

Việc phân loại âm dương cho sự vật tương đối khó vì Âm Dương chỉ là 2 đặc tính của mỗi sự vật, đặc tính này không hoàn toàn tuyệt đối vì có những vật tuy là dương nhưng so với cái dương hơn lại hóa ra âm.

Về vật lý:

  • Hình dáng: hình chữ nhật đứng âm hơn so với hình chữ nhật nằm ngang, hình dạng nhỏ hơn dương hơn.
  • Cấu trúc: vật đặc hơn thì dương hơn so với với rỗng hơn;
  • Màu sắc theo Phân Quang đồ : Đỏ, Cam, Vàng, Lục Lam, Chàm Tím . ( Sắp xếp thứ tự từ Dương đến Âm). Các làn sóng ngắn càng Dương toả nhiệt càng nhiều .
  • Trọng lượng: vật có cùng thể tích nhưng tỉ trọng hay trọng lượng nặng hơn thì dương hơn

Vê hoá học:

  • Thành phần K/Na: càng lớn thì càng âm hơn so với vật thể cùng một đằng lượng.
  • Nhiệt độ: Nóng hơn thì dương hơn so với lạnh
  • Thành phần nước chứa bên trong: càng chưá nhiều nước càng âm hơn.

Về định hướng phát triển:

  • Dưới mặt đất: Đâm sâu thẳng xuống lòng đất là Dương, lan rộng ra dưới mặt đất là Âm, thí dụ như củ sắn dây dương hơn so với củ khoai mì
  • Trên mặt đất: càng phát triển xa mặt đất càng âm thí dụ cây dừa âm hơn so với cây đu đủ

Về sinh vật học:

  • Thời gian nấu chín: càng nấu lâu hơn thì càng dương hơn 
  • Thời gian tăng trưởng: cùng trong một thời gian, vật thể tăng trưởng chậm dương hơn so với vật tăng trưởng nhanh hơn.

Về sinh thái học:

  • Khuynh hướng: phát triển trong mùa thu, mùa đông, khí hậu lạnh, độ tăng trường chậm hơn, dương hơn vất thể phát triển vào mùa xuân, mùa hạ, khí hậu ấm hơn, độ tăng trường nhanh hơn.
  • Khí hậu: vật mọc ở xứ lạnh có khuynh hướng dương hơn so vói vật mọc ở xứ nóng hơn, thí dụ trái cây mọc ở vùng hàn đới dương hơn trái cây mọc ở vùng nhiệt đới;

Về sinh hóa học:

  • Phản ứng hóa học: làm cho co rút, teo tóp là dương so với làm cho dãn nở, choáng váng, say thì âm hơn
  • Khuynh hướng phát triển: vật thể càng ly tâm lực chi phối nhiều chừng nào thì càng âm hơn so với vật bị cầu tâm lực chi phối nhiều hơn, thí dụ chuối phân mãnh thành nải thành trái âm hơn so với trái mận;
  • Thời gian tác dụng: sốt cao từ sáng đến trưa dương hơn sốt cao từ chiều đến tối.

Về sinh lý học:

  • Sinh hoạt: hoạt động thì dương hơn so với thụ động
  • Vị trí: Phần  sau đầu là dương, trán và hai thái dương là âm
  • Dưỡng khí ( oxygen ): nhiều là Dương, ít dưỡng khí là Âm
  • Giọng nói: giọng cao to là Dương , giọng lí nhí thấp là Âm
  • Xúc Cảm: Vui là Dương , Sợ là Âm
  • Nhiệt Độ: Nóng là Dương, lạnh là Âm
  • Hơi thở và nhịp đập tim: Nhanh là Dương, Chậm là Âm
  • Tác động: làm cho co rút, teo tóp  là Dương , Làm cho dãn nở , choáng váng, say, là Âm
  • Màu da:  Hồng  là Dương , Nhợt xanh là Âm

2. Bảng quy luật âm dương trong tự nhiên và trong cơ thể

Trong tự nhiên

Âm Đất Trong Lạnh Đêm Mặt trăng Nước Tối…
Dương Trời Ngoài Nóng Ngày Mặt trời Lửa Sáng…

Trong cơ thể con người

Âm Nữ Tạng Kinh âm Tạng hàn Sợ lạnh Huyết Mạch nhâm…
Dương Nam Phủ Kinh dương Tạng nhiệt Sợ nóng Khí Mạch đốc…

V. Ứng dụng của học thuyết Âm dương trong y học

1. Học thuyết âm dương trong cơ thể và sinh lý

Tổng quan Âm dương trong cơ thể và sinh lý:

  • Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, trên …
  • Dương: Phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, dưới …
  • Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương
  • Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên nên ta có bảng sau:
Tạng Âm Dương
Phế Phế âm Phế khí
Thận Thận âm Thận dương
Can Can huyết Can khí
Tâm Tâm huyết Tâm khí
Tỳ Tỳ âm Tỳ dượng

a) Trên là âm, dưới là dương

Theo cách phân chia này thì Đầu là âm và chân là Dương. Thực tế cho thấy, đầu (cụ thể là trán) sờ vào lúc nào cũng thấy mát và chân (dưới) luôn thấy ấm. Khi cơ thể bệnh (có rối loạn thăng bằng âm dương) thì đầu (phía trên) sờ vào thấy nóng (trán nóng, mắt đỏ, mặt đỏ bừng...) thay vì mát, và chân (phía dưới) thấy lạnh (ẩm, ra mồ hôi, đau ê ẩm...) thay vì nóng. Cách chữa bệnh đơn giản nhất là dùng khăn lạnh đắp vào trán (thêm âm vào để đẩy dương ra) hoặc ngâm chân vào nước nóng (thêm dương vào để đẩy âm ra). Cách điều trị trên chủ yếu nhằm thực hiện lại thế quân bình (điều hòa âm dương) đã bị xáo trộn vì bệnh gây ra, vì thế, đã có một nhận xét hết sức lý thú : "Hãy giữ cho đầu bạn mát (âm) và chân bạn luôn ấm (dương) thì bạn sẽ không cần đến thầy thuốc".

Theo các nhà nghiên cứu : Ở tư thế nằm, đầu thấp, chân cao sẽ dễ nhớ và tiếp thu nhanh hơn, họ cho rằng vì máu dồn về não giúp não làm việc tốt hơn. Có thể hiểu như sau : Máu (âm) dồn về đầu (âm) tức tăng thêm âm, giúp cho dễ nhớ hơn. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cũng thấy rằng ở tư thế này rất dễ buồn ngủ, vì âm mang tính tĩnh.

b) Bên trái là Dương, Bên phải là Âm

Vấn đề quy định bên phải, bên trái thuộc Âm hay Dương, chưa có tài liệu nào nghiên cứu 1 cách sâu xa và giải thích thỏa đáng. Tuy nhiên, dựa vào 1 số công trình nghiên cứu và quan sát tự nhiên, ta thấy :

  • Theo giáo sư Hirasawa, chuyên viên nghiên cứu sinh lý học thể dục Trường đại học bách khoa Tokyo, sau 35 năm chuyên nghiên cứu về bàn chân đã nhận xét rằng : "từ 6-50 tuổi, diện tích tiếp xúc mặt đất của chân trái phái nam và nữ đều lớn hơn so với chân phải và diện tích tiếp xúc với mặt đất khi đứng của bàn chân trái lớn hơn. Thời gian chạm đất khi đi phía bên trái cũng nhiều hơn. Cảm giác ổn định khi đứng 1 chân bằng chân trái cũng tốt hơn. Vết chân người cổ đại cách đây 3000 năm cũng cho thấy vết chân trái in sâu hơn xuống đất hơn là chân phải. Các vận động viên, diễn viên... cũng đều dùng chân trái làm trục chống đỡ cơ thể, còn chân phải dùng để biểu diễn các động tác".
  • Khi khởi động 1 cách tự nhiên, hầu như bao giờ chân trái cũng khởi động trước. Theo các nhà nghiên cứu, khi chuyển động trái đất tạo nên 1 dòng điện gọi là địa từ lực lôi cuốn mọi vật - Địa từ lực này mang đặc tính âm. Theo nguyên tắc vật lý, 2 vật cùng tên đẩy nhau, khác tên hút nhau. Lực của trái đất là âm.
  • Bác sĩ Nogier (tác giả môn châm trị liệu loa tai), khi nghiên cứu về 2 bình tai cũng đã nhận xét : "Với các nhà châm cứu, Nhâm mạch (quản lý các kinh Âm) nằm trên bình tai Phải, của người thuận phải và Đốc mạch (thống xuất các kinh Dương), nằm trên bình tai Trái.
  • Viện vật lý và sinh hóa ở Leningrat (Liên Xô) khi tiến hành thí nghiệm về độ nhạy của tai người đã nhận thấy rằng : tai trái nhạy cảm hơn tai phải.
  • Các vận động viên điền kinh, đua xe, chạy... bao giờ cũng phải rẽ về bên trái.
  • Hình ảnh người chèo đò cho thấy, bao giờ mái chèo cũng nằm bên trái.

Qua các nhận xét trên, tạm thời nêu lên nhận định là bên trái thuộc Dương và bên phải thuộc Âm. Điều này rất có giá trị trong việc điều trị bằng châm cứu khi phải chọn huyệt để châm.

c) Trong (bụng, ngực) là Âm, Ngoài (lưng) là Dương

Thiên “Ngũ Tạng Sinh Thành Luận” (TVấn 10) ghi : “Phù ngôn chi Âm Dương, Nội vi âm, ngoại vi Dương, Phúc vi âm, Bối vi Dương” (Nói về Âm Dương, trong thuộc âm, ngoài thuộc dương, bụng thuộc âm, lưng thuộc dương).

  • Ngay từ trong bào thai, sự sắp xếp theo thứ tự trên cũng khá rõ : Bào thai nam, dương khí tụ ở lưng nên thường quay lưng ra, do đó, bụng người mẹ thường có dạng tròn và cứng. Trái lại, bào thai nữ, âm khí tụ ở ngực nên thường quay mặt ra ngoài, do đó bụng người mẹ thường có dạng hình bầu dục (gáo nước) và mềm.
  • Hình ảnh người chết đuối trên sông cho thấy, xác nam bao giờ cũng nằm sấp vì dương khí tụ ở lưng, còn xác nữ bao giờ cũng nằm ngửa vì âm khí tụ ở ngực.

d) Âm Dương và Tạng Phủ

  • Thiên "Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận" ghi : "Lục phủ giai vi dương, Ngũ tạng giai vi âm" (Lục phủ thuộc dương, Ngũ tạng thuộc âm). Như thế Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận thuộc âm, còn Tiểu Trường, Đởm, Vị, Đại Trường, Bàng quang, Tam Tiêu thuộc dương. Tâm Bào, được coi như 1 tạng mới, do đó thuộc âm.
  • Giáo sư Ohsawa (tác giả phương pháp dưỡng sinh, người Nhật), trong sách "Phương Pháp Dưỡng sinh", lại có 1 số nhận xét hơi khác trong việc phân chia Tạng phủ và Âm Dương. Theo đó, Tâm, Can, Thận thuộc dương (thay vì thuộc âm) còn Phế, Vị thuộc âm. Ohsawa cho rằng Tim, Gan và Thận có hình dáng đặc và nặng nên thuộc dương, còn Phổi và Dạ dầy rỗng, nhẹ nên thuộc âm.

Có gì mâu thuẫn giữa 2 quan điểm phân chia Âm Dương giữa sách Nội Kinh và Ohsawa không " Sách Nội Kinh là sách kinh điển, tích chứa kinh nghiệm bao đời của người xưa, Gs. Ohsawa là nhà nghiên cứu có tiếng trên thế giới, như vậy cả 2 quan điểm đều có lý do của nó.

Có thể tạm hiểu như sau : Theo "Kinh Dịch", mỗi vật thể, hiện tượng... đều do 2 yếu tố : THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên. Một vật nào đó, có thể có hình dạng (thể) là âm nhưng lại có công dụng là dương hoặc ngược lại, Thể là dương nhưng Dụng là âm.

Thí dụ : Tạng Tâm, xét về hình thể là 1 quả tim, đặc nặng, nên mang đặc tính dương tức là dương về Thể, nhưng Tâm lại có nhiệm vụ cung cấp máu cho toàn cơ thể, máu thuộc âm, do đó Tâm mang đặc tính âm xét về Dụng.

Thí dụ : Quả Ớt, xét về hình thể, quả ớt có màu đỏ, do đó thuộc dương, nhưng ớt có vị cay, khi vào ruột, làm nở các mao trạng ruột, tiêu thức ăn nhanh, như vậy, ớt có đặc tính âm nếu xét về công dụng.

2. Bản chất của quá trình sinh và phát triển của bệnh theo âm dương.

Bản chất của bệnh là do sự mất thăng bằng giữa phần âm và phần dương của cơ thể

  • Phần âm thiên thắng gây âm thịnh, thừa phần âm nên gây chứng lạnh bên trong, gọi là nội hàn. Biểu hiện ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý thuộc hàn mạch trầm và trì, có lực. Thuốc phải nóng tán được nội hàn như Thảo quả, can khương, ngô thù du, quế nhục, phụ tử chế, hạt xuyên tiêu…
  • Phần âm suy hư, thiếu phần âm nên phần dương trội 1 cách tương đối gây chứng nóng từ bên trong gọi là âm hư sinh nội nhiệt. Biểu hiện như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu vàng hoặc đỏ sẻn, nóng từ trong ngực bụng, lòng bàn chân tay nóng, quạt mát, tắm nước lạnh không hết nóng. Mạch tế sác, lực mạc kém. Thuốc phải bổ vào phần âm bị thiếu hụt, đó là những vị thuốc bổ âm thuộc lại âm dược như Thục địa, hoàng tinh, thạch hộc, kỷ tử, mạch môn, thiên môn…
  • Phần dương thiên thắng gây dương thịnh, thừa phần dương gây sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ, ấm thắng gây chứng hán: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trậm, ỉa lỏng nước tiểu trong v.v… Thuốc phải mát lạnh để loại bỏ phần dương bị thừa để âm dương về trạng thái cân bằng: Thuốc Tả hỏa thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, cốc tinh thảo, hạt muồng, tri mẫu, mật gấu…
  • Phần dương hư suy, thiếu phần dương gây ngoại hàn, sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bị giảm sút đái đêm nhiều lần, di tinh liệt dương…Thuốc phải bổ vào phần dương bị thiếu hụt như đỗ trọng, cẩu tích, cốt toái bổ, ích trí nhân, ba kích, dâm dương hoắc, phụ tử chế, phá cố chỉ, nhục thung dung…
  • Âm dương lưỡng hư là trường hợp suy giảm cả phần âm lẫn phần dương chỉ gặp ở người có tuổi, cao tuổi với biểu hiện cả âm hư lẫn dương hư, thuốc dùng cả 2 loại bổ âm và bổ dương.

3. Chữa bệnh theo học thuyết âm dương

a) Học thuyết Âm dương chuẩn đoán bệnh

  •  Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn) sờ nắm, xem mạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.
  • Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm.

Vắn tắt: Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật được quy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc v.v…

b) Chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh.

Chữa bệnh theo học thuyết Âm dương là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm lượng của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…

Đối với phương pháp châm cứu:

  • Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.
  • Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) thì dùng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương); bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.

4. Thuốc và cách sử dụng thuốc theo học thuyết Âm dương

a) Cách sử dụng thuốc theo học thuyết Âm dương

Nguyên tắc dùng thuốc theo âm dương: Bệnh có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó là thuốc có tính hàn và ngược lại. Tùy theo mức độ nhiệt, hàn mà dùng thuốc hàn, nhiệt mạnh hay yếu, liều ít hay nhiều ví dụ :

 Chứng thực nhiệt

  • Huyết nhiệt: Mụn nhọt tái phát nhiều lần do huyết nhiệt chỉ cần dùng những thuốc mát để lương huyết như sinh địa, rễ cỏ tranh, huyền sâm, đan bì, xích thược dược, thổ phục linh…kết hợp thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, quán chúng, lá chàm…Đây là những thuốc tính hàn nhẹ.
  • Thấp nhiệt:Viêm gan siêu vi trùng, viêm phần phụ, viêm âm hộ, âm đạo, nội mạc tử cung, viêm đài thận, bể thận do sỏi, viêm bàng quang, niệu đạo, viêm tinh hoàn, viêm ruột mạn tính…Thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục. Đây là chứng bệnh do thấp nhiệt, tuy bệnh dai dẳng nhưng mức nhiệt không cao nên chỉ dùng thanh nhiệt trừ thấp: Nhân trần, long đởm thảo, nha đảm tử, hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, rễ chàm, dây hạt bí, ý dĩ nhân, rau sam…
  • Hỏa nhiệt:Sốt cao co giật mức nhiệt mạnh, cần hạ sốt ngay, dùng thuốc hàn mạnh, liều cao như thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, hạt muồng sống, tri mẫu, mật gấu, cốc tinh thảo, hạ khô thảo…
  • Thử nhiệt: Là say nóng, say nắng, choáng váng khi làm việc trong lò nhiệt như lò rèn, lò luyện gang thép…Dùng thuốc mát để thanh nhiệt giải thử như lá sen, đậu ván, quả dưa hấu…
  • Nhiệt độc: do nhiễm trùng bởi vi trùng, vi rút dùng thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, sài đất, rẻ quạt, lá dấp cá…

Chứng hư nhiệt

  • Âm hư sinh nội nhiệt, nóng trong, sốt thấp 37,5 độ - 38 độ về buổi chiều đêm, ngũ tâm phiền nhiệt, bức bối, môi khô, đỏ… dùng các thuốc bổ âm như Thục địa, mạch môn, thiên môn, thạch hộc, kỷ tử, lá dâu non, hoàng tinh… trong vài ba tuần sẽ hết sốt.
  • Nội nhiệt do thận âm hư hoặc vị âm hư,can âm hư, phế âm hư, tâm âm hư, tỳ âm hư, thông thường nhất là thận âm, vị âm, phế âm hư.

Chứng thực hàn

  • Hàn từ ngoài thiên nhiên xâm nhập vào cơ thể gây lạnh, sợ lạnh, rét run, đau họng, không ra mồ hôi, thậm chí sau đó phát sốt nóng nhưng vẫn sợ lạnh thì dùng thuốc chữa phong hàn, vì loại hàn này là biểu hàn.
  • Hàn thịnh tự trong cơ thể hoặc phục hàn từ trước là lý hàn, thường gặp nhất ở trung tiêu như đau dạ dày-tá tràng vào mùa đông, cơn co thắt đại tràng do lạnh, dùng các thuốc ấm, nóng như phụ tử chế, quế nhục, thảo quả, đại hồi, ngô thù du, càn khương, cao lương khương..
  • Hàn quyết: Do mất dương khí đột ngột, cảm lạnh đột ngột, tự nhiên người lạnh toát, mặt trắng bệch, chân tay giá lạnh, có thể vã mồ hôi loãng lạnh đầm đìa…Phải dùng thuốc nhiệt mạnh, tác dụng nhanh để hồi dương cứu thoát: Phụ tử chế, cồn gừng, cồn quế, ngô thù du, dầu hồi vừa uóng vừa xoa xát mạnh…

Chứng hư hàn

Chứng hư hàn là do phần dương trong cơ thể suy giảm nên khi chữa chủ yếu bổ dương. Tùy theo mà có thể gặp các trường hợp sau:

  • Tâm dương hư sinh tâm hàn trong cơn đau thắt ngực của thiếu máu cơ tim do lạnh
  • Tỳ dương hư sinh chứng ỉa chảy khi lạnh bụng, khi gặp thức ăn sống lạnh, viêm đại tràng mạn tính thể hàn phân sột sệt như phân vịt.
  • Thận dương hư: Lạnh thắt lưng, đái đêm nhiều lần, liệt dục, đau mỏi lưng gối, ù tai…

b) Cách bào chế thuốc theo học thuyết Âm dương

Trong diễn biến bệnh muôn hình vạn trạng phức tạp có những vị thuốc phải được bào chế lại để hạn chế tính âm, hoặc tính dương hoặc những vị thuốc tính âm dương không rõ phải dùng trong bệnh biểu hiện âm, dương rõ ràng thì cần tăng tính âm hoặc tính của chúng.

  • Giảm tính hưng phấn của phụ tử bằng cách ngâm vào nước ót, giảm tính thăng khai của xương bồ bằng ngâm nước gạo, nói chung muốn giảm tính dương, tăng tính âm nên phơi sương đêm.
  • Muốn tăng tinh dương có thể tẩm mỡ dê, tẩm gừng, sa nhân…ví dụ dâm dương hoắc tẩm mỡ dê nướng.
  • Giảm tính âm bào đun nấu nhiều lần như sinh địa tẩm gừng và sa nhân đun 9 lần, phơi nắng 9 lần thành thục địa gọi là cửu chứng cửu sái.
  • Tăng tính âm của dược liệu thì ngày hạ thổ, đêm phơi sương … như tụy lợn khi dùng chữa đái dường.
  • Có những thuốc như tỳ giải, ý dĩ nhân, dây đau xương… tính âm dương không rõ, tùy mục đích sử dụng mà ta có cách bào chế khác nhau.

Tham khảo bài viết gốc ở : Học thuyết âm dương

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Test bài viết

Logo Phan Tâm Đường

Tham khảo bài viết gốc ở : Test bài viết

Website đông y chữa bệnh – Phan Tâm Đường

Chào mừng tất cả mọi người đến website dongychuabenh.com trang web này của Phan Tâm Đường.

Phan Tâm Đường chia sẻ các kiến thức về y học cổ truyền - đông y

Với mục đích mang lại kiến thức đông y vô cùng quý giá và niềm yêu thích đông y cho mọi người. Trang web Phan Tâm Đường ra đời. Trang web sẽ tập hợp lại các kiến thức y học cổ truyền một cách bài bản, hấp dẫn, dễ hiểu. Hứa hẹn sẽ mang lại giá trị và ích lợi nhất định cho người đọc.

Những kiến thức YHCT hay đông y được Phan Tâm Đường đúc kết rõ ràng và phân chia một cách khoa học: Từ lý luận trong đông y, Các hội chứng bệnh theo đông y và cẩm nang bệnh cũng như từ điển bài thuốc đông y.

Nội dung bao quát, rõ ràng và chi tiết, bố cục rành mạch giúp người đọc có thể dễ dàng tra cứu.

Phan Tâm Đường cung cấp bách khoa toàn thư về các loại thảo dược, đông dược

Thảo dược, đông dược là nguồn tài nguyên vô tận. Trong đông y từ xa xưa các loại thảo dược đã được đúc kết, nghiên cứu và truyền tai nhau với những công dụng nhất định.

Phan Tâm Đường muốn mang đến cho các bạn một hệ thống tra cứu đông dược chi tiết, cụ thể  nhất với số lượng đầy đủ và liên tục cập nhật. Các bạn có thể tra cứu đông dược tại đây.

Website cung cấp đầy thông tin kiến thức về châm cứu bấm huyệt.

Với mong muốn xây dựng một website đông y toàn diện, chúng tôi liên tục cập nhật và bổ sung thêm nhiều kiến thức xung quanh về đông y. Những kiến thức cơ bản và nâng cao về châm cứu, bấm huyệt. Cung cấp đầy đủ bảng tra cứu các huyệt vị để các bác sỹ tiện tra cứu.

Phan Tâm Đường xin chân thành cảm ơn!

Tham khảo bài viết gốc ở : Website đông y chữa bệnh – Phan Tâm Đường

Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018